XỨ QUẢNG

Nơi tiền nhân yên nghỉ (bài 1): Gõ cửa “bảo tàng” Gò Nổi

Mộ người anh hùng Hoàng Diệu nằm giữa bát ngát đồng ruộng Xuân Đài

Mộ người anh hùng Hoàng Diệu nằm giữa bát ngát đồng ruộng Xuân Đài

Những danh nhân, chí sĩ đã góp phần hình thành nên lịch sử, văn hóa, tính cách của xứ Quảng và mãi mãi trở thành niềm tự hào trải qua nhiều thế hệ. Những trang sử, giai thoại về họ truyền lại như một giá trị văn hóa “phi vật thể” quý báu.

Còn phần “vật thể”, nơi họ đã yên nghỉ qua dòng chảy thời gian và bao nhiêu biến cố?

Nương dòng sử cũ, PV Báo Quảng Nam đã tìm về bên những lăng mộ bề thế hoặc những nấm mộ khiêm nhường để được nhận diện rõ hơn niềm tôn kính, ngưỡng vọng và cả nỗi day dứt với tiền nhân.

BÀI 1: GÕ CỬA “BẢO TÀNG” GÒ NỔI

Giữa bát ngát Xuân Đài…

Ai một lần ngang qua Gò Nổi- Điện Bàn, nơi phong cảnh quang rạng và là chốn chào đời của rất nhiều bậc danh sĩ, chí sĩ xứ Quảng, hẳn cũng muốn được viếng thăm lăng mộ tiền nhân để tỏ lòng ngưỡng vọng. Ở làng cũ Xuân Đài đang yên nghỉ một bậc anh hùng lưu danh: Hoàng Diệu (1829-1882). Đứng giữa cánh đồng Xuân Đài (xã Điện Trung), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không giấu được niềm cảm khái: “Mộ không bề thế như tôi tưởng, còn quá nhỏ so với lăng mộ những viên quan lớn vô tích sự quanh triều đình Huế mà tôi vẫn thường thấy (…).Tường lăng sơn trắng, phơn phớt hồng nổi lên giữa màu lúa xanh; bát ngát và trong sáng, đúng là giấc ngủ của người anh hùng”.

Một nét cổ tại lăng mộ mới trùng tu của cụ Hoàng Diệu.
Một nét cổ tại lăng mộ mới trùng tu của cụ Hoàng Diệu.

Ấy là năm 1984, khi tác giả bút ký “Đứa con phù sa” về Gò Nổi. Bây giờ, mọi chuyện đã quá đổi khác. Không còn là “một nấm vôi khô, nằm vùi giữa đồng cỏ voi” nữa. Từ năm 1997, lăng mộ cụ Hoàng đã được trùng tu bề thế, trở thành di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Một khuôn viên rộng 2.508m2, giữa xanh ngắt lúa và thấp thoáng núi phía xa. Táng ngay bên cạnh là mộ của 2 cụ bà chánh thứ thất… Buổi trưa đầu tháng 8, chúng tôi theo chân chị Đinh Thị Hiệp – cán bộ Bảo tàng Điện Bàn và một bậc cao niên khác đến thăm lăng mộ. Vẫn đôi câu đối viếng nổi tiếng của Tôn Thất Thuyết được khắc trang trọng: “Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện/ Bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm” (Cái chết lẫy lừng, từ trước anh hùng nào muốn thế/ Cả đời trung nghĩa, đang cơn đại nạn há ngơ sao).

Cụ Hoàng Diệu vẫn được hậu thế ngưỡng vọng như một con người sáng ngời nghĩa khí. Cụ đỗ cử nhân năm 19 tuổi, đỗ phó bảng năm 24 tuổi, làm quan triều Nguyễn trải qua nhiều chức quan ở Quảng Nam, Bình Định, Thừa Thiên, Nghệ An – Hà Tĩnh…, thăng dần lên đến Tham tri bộ Hình, Tham tri bộ Lại kiêm Đô sát viện, Binh bộ Thượng thư. Ở cương vị Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Bắc Ninh), khi ấy cụ 54 tuổi, giặc Pháp tấn công thành Hà Nội. Giữa lúc triều đình nhu nhược, quan lại đầu hàng hoặc đào ngũ, vẫn lẫm liệt một tư thế Hoàng Diệu. Bia khắc tại thôn Xuân Đài, xã Điện Quang còn chép rõ sự kiện ấy: “…Riêng ngài, tuy là trọng thần văn ban vẫn đơn độc đốc suất binh sĩ kiên cường chống giữ cửa Bắc thành Hà Nội cho đến khi kho thuốc đạn bị phá hủy, giặc tràn vào cửa Tây. Ngài ung dung đến hành cung thảo Di biểu gửi triều đình rồi dùng khăn bịt đầu tự ải tuẫn tiết trước Võ miếu Hà Nội ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (25-4-1882)”.

… Sau sự kiện lịch sử chấn động ấy, dân chúng cùng nhân sĩ Bắc Hà tống táng người anh hùng xứ Quảng tại khu học đường gần Văn Miếu. Ba tháng sau, hai người con trai từ quê nhà ra đưa di hài cụ về quê an táng. Rồi đúng 100 năm sau nữa, mộ cụ được làng cũ trùng tu. Và bây giờ, khi đã lựa chọn một “cái chết lẫy lừng”, “một cái chết nên danh”, vị anh hùng nổi tiếng liêm khiết ấy đang yên nghỉ giữa bát ngát Xuân Đài.

Thâm nghiêm một “bảo tàng”

Viếng hương tại khu lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ.

Viếng hương tại khu lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ.

Dọc từ Điện Trung lên Điện Quang, khách phương xa đã có thể bắt gặp tấm biển báo độc nhất bằng i-nox chổ dẫn vào một địa chỉ cũng vang danh không kém tại vùng Gò Nổi: lăng mộ cụ Trúc Đường Phạm Phú Thứ (1821-1882). Vừa bước vào khuôn viên, chúng tôi đã gặp ngay hai bác Phạm Phú Vinh, Phạm Phú Trắc những người cháu đời thứ 9, thứ 10 của cụ Phạm vừa từ Tp. Hồ Chí Minh về quê cũ, lo xây dựng Trúc Đường hoa viên. Hoa viên này nằm mé phải khu lăng mộ cụ Trúc Đường chu vi 750 m2, di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh. Trải qua bao tàn phá của chiến tranh, đến năm 1989 chính quyền tỉnh, huyện, xã và nhân dân địa phương cùng con cháu cụ xây dựng lại mộ, để rồi đến năm 2007 đại tu nên diện mạo khang trang, bề thế.

Tấm bia khắc 1.500 chữ dựng nơi lăng mộ cụ Trúc Đường đã phác họa phần nào về tiểu sử, tác phẩm cùng hành trạng của một vị đại khoa đỗ đầu xứ, tú tài, giải nguyên, tiến sĩ. Cụ Trúc Đường từng trải qua các chức Tả Tham tri bộ Lại, Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Binh, Tổng đốc Hải An kiêm Tổng lý thương chánh… Năm 1863, cụ được sung chức Phó sứ, cùng Chánh sứ Phan Thanh Giản và Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp, Tây Ban Nha chuộc lại 3 tỉnh Nam Kỳ. Cụ cũng được xem là một nhà hành chính có tài ứng biến, một chính khách có tầm nhìn chiến lược, con người của tư tưởng canh tân giáo dục và học tập khoa học-kỹ thuật phương Tây. Từ những ngày ngồi ở tòa Kinh diên để giảng sách cho vua Tự Đức, cụ đã dám dâng sớ can gián vị vua trẻ ham chơi bỏ bê triều chính đến độ bị cách chức, đày đi khổ sai làm chân… cắt cỏ ngựa ở trạm Thừa Nông phía nam Thừa Thiên vì phạm thượng.

Con người cương trực ấy quyết không phải là người mềm mỏng kiểu “núp trong tre” như một biệt hiệu khác của cụ, Trúc Ẩn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng nhận định, “Phạm Phú Thứ xuất hiện trên sinh hoạt văn hóa cũng như công quyền Việt Nam như một hiện tượng “độc đặc” (infiriment originale) của lịch sử văn hóa Việt Nam” (Quảng Nam đất nước và nhân vật, NXB Văn hóa – 1996). Công trạng, nhân cách của cụ tưởng đã quá quen thuộc. Chỉ muốn nhắc thêm điều này, cụ Trúc Đường có lẽ nằm trong số không nhiều danh nhân được các thế hệ con cháu liên tục chăm sóc mộ phần, vun bồi niềm tự hào gia tộc. Qua hai đợt xây dựng, đại tu năm 1989 và 2007, đã có ngót 300 triệu đồng quyên góp xây dựng lăng mộ cụ. Đến nỗi, một cán bộ làm công tác văn hóa – thông tin của huyện Điện Bàn phải thốt lên thán phục: “Mỗi khi di tích xuống cấp, gia đình đã tự sửa mà không cần đến sự “động viên” của chính quyền!”.

* * *

Không có nhiều mảnh đất sản sinh và che chở cho nhiều nhân tài kiệt hiệt như vùng Gò Nổi. Trong số 8 vị có lăng mộ được xếp hạng di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia ở Điện Bàn, vùng Gò Nổi đã “chiếm” hết 4 (Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Phạm Tuấn, Phan Thành Tài). Ấy là chưa kể mộ của những nhân vật nổi danh khác như Phạm Liệu, Lê Đình Dương… Riêng Lê Đình Dương (1893-1919) – người từng được Đại hội Việt Nam Quang phục hội cử làm Tổng trấn Quảng Nam – có cha là bậc đại khoa giữ chức Thượng thư dưới triều Tự Đức; em là bác sĩ Lê Đình Thám từng được cử làm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam…

Bao nhiêu nhân tài “tề tựu” nơi đất mẹ, thâm nghiêm thay Gò Nổi!

Bài 2: Long đong nấm mộ anh hùng

Nhưng Gò Nổi đang vắng khuyết ngôi mộ một con người lẫm liệt với thuyết “Trung thiên dịch” và cuộc khởi nghĩa Duy Tân đã khắc tên ông vào lịch sử. Ngôi mộ cũng long đong như chính cuộc đời chìm nổi của Trần Cao Vân. “Thân phận” ấy còn vận vào một con người khác nữa, ở đất Tam Kỳ…

HỨA VĂN ĐÔNG (Theo Báo Quảng Nam)

Advertisements

Tháng Tám 12, 2008 - Posted by | 1. Xã hội

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: