XỨ QUẢNG

Kể chuyện thi cử ngày xưa

Ông Phan Nhụy, anh ruột của hai ông Phan Thanh và Phan Bôi, vì là con lớn trong gia đình, phải lao động giúp cha mẹ làm ăn, không được học hành đến nơi đến chốn, mà chỉ học chữ Hán và chữ quốc ngữ ở trình độ đọc thông viết thạo. Tuy nhiên ông cũng đã dự một khoa thi Hương tại Huế vào năm 1913. Sau đây là những việc mắt thấy tai nghe ở trường thi do ông kể lại trong tập hồi ký ông viết năm 1978.

… Làng tôi có lệ, ai đã dự thi Hương ở Huế, bất kể đậu rớt đều được miễn làm các tạp dịch trong làng. Vì vậy, tuy văn chương tôi chưa có bao nhiêu, tôi chưa tích lũy được nhiều kiến thức, tôi cũng quyết tâm đi thi khoa này. Được cha mẹ đồng ý, trước tiên tôi dự một lớp học ôn vào năm 1912, do ông Tú  Phan Khôi mở dạy trong làng. Sau đó, tôi phải qua một kỳ sát hạch tại tỉnh Quảng Nam, nếu đậu mới được ghi tên vào danh sách dự thi.

May sao, hôm đi xem bảng, thấy tên mình trúng tuyển, tôi vô cùng vui sướng, chuẩn bị qua giêng lên đường ra miền sông Hương, núi Ngự.

Đúng ngày quy định, văn nhân sĩ tử cả 5 tỉnh Bình, Trị, Thiên, Nam Ngãi đầu tập trung về chốn cố đô. Nhìn trước ngó sau, tôi thấy mình sao bé nhỏ quá, giống như một tiểu đồng đi bưng điếu tráp hầu hạ một ông quan chứ không phải học trò đi thi, tuy tôi cũng đã 17 tuổi. Cùng đi với tôi có hai cậu là anh em ruột với mẹ tôi. Hai cậu đã có bằng tú tài, nhưng vì nhà rất nghèo, đi dự thi để vào được trường thi làm bài giúp học trò dốt kiếm tiền, chứ không phải thi để lấy bằng cấp cao hơn. Hai ông dẫn tôi đến khu vực trường thi, hướng dẫn cho tôi một số việc cần chuẩn bị, rồi đưa nhau đi đâu không rõ.

Cảnh trường thi ngày xưa. Ảnh tư liệu.

Trường thi là một khu đất trống khoảng 10 mẫu, chung quanh có thành bao bọc. Bên trong, có con đường thập đạo chia khu đất thành 4 vi, vi tả, vi hữu, vi giáp và vi ất. Hai bên đường thập đạo là thành cao vừa quá đầu người để ngăn cách người qua lại. Mỗi thí sinh đi thi phải mang theo 3 quyển, mỗi quyển có 10 tờ giấy, khổ rộng. Mặt trước quyển ghi sẵn tên họ, xã, tổng, phủ, huyện, tỉnh, niên canh và cung khai tam đại, nghĩa là tên tuổi cha, ông nội, già hay trẻ, sống hay chết.

Danh sách thí sinh các tỉnh đã được gởi về đây để các quan chấm thi nắm được mà làm thẻ tre. Trên mỗi thẻ tre ghi tên họ thí sinh. Xong rồi các quan trường ra chia thẻ ấy làm 4 đống cho 4 vi. Căn cứ theo đó, họ lập ra bảng danh sách thí sinh ở mỗi vi, treo bảng danh sách ấy ở cửa vi vào chiều hôm trước để thí sinh biết mà vào trường thi khi nghe xướng đến tên mình.

Chung quanh khu vực trường thi, những dụng cụ cần thiết cho thí sinh đều được bày bán đầy đủ.

Trước hết, tôi mua cái lều. Đó là một tấm hình vuông do lá tơi kẹp lại, mỗi cạnh chừng một thước rưỡi. Tôi lại mua 4 cái trụ, 4 khoanh dây đay, 4 cái cọc tre vót nhọn, 1 cái vồ đục để đóng cọc, 1 chai đựng nước uống và 1 ống trúc đựng quyển. Ống trúc có nắp, trên nắp có khung để xỏ giây vào khung ấy mà mang. Tôi không quen mang hương, đèn, giấy cúng, vàng bạc để khi dựng lều xong thì cúng âm hồn theo lời cha tôi dặn.

Đến ngày thi, tôi thức dậy lúc 1 giờ sáng để từ nhà trọ lên đường. Vai bên tả tôi mang một cái tráp, trong tráp đựng nghiên, bút, mực, giấy nháp và các lễ vật để cúng. Cái tráp ấy cũng là cái bàn để tôi làm bài. Vai bên hữu, tôi mang lều trại, gồm trụ và dây, kèm theo có manh chiếu con để trải trong trại.

Tôi dò dẫm bước về phía trường thi, lúc đầu thì còn dễ đi, đến khi gần tới trường, người đông đúc, phải chen lấn rất khó khăn.

Thí sinh ở Huế thì có cha mẹ, anh em đưa đi, kẻ mang giúp cái này, người mang cái nọ. Có người mang theo lồng đèn đỏ đủ màu sắc khiến cho cả khu vực trường thi lấp lánh như sao rất đẹp.

Thí sinh con quan lớn thì sắm cái lều như cái xe, chung quanh được che bằng lá tơi. Trong xe có cái sạp bằng tre, đặt cái bàn con ngồi làm văn và viết quyển. Cái lều xe này do 4 người lính đẩy tới cổng trường mới trở ra.

Thí sinh là con của thường dân thì không những trăm việc đều tự tay làm lấy, mà khi vào trường còn bị kiểm tra lục soát rất kỹ.

Tôi xem bảng, biết mình sẽ thi tại vi ất nên đứng sẵn chờ nghe tên, nhưng người tôi đã thấp bé lại mang đồ đoàn lỉnh kỉnh, vì vậy có nghe loa gọi tên nhưng không làm sao chen vào để lãnh quyển. Lúc trời đã sáng, thí sinh vào trường gần hết, tôi mới vào được. Thấy mọi người chung quanh đã đóng xong lều trại, tôi vội soạn các thứ ra, nhìn chung quanh để bắt chước họ. Tôi cũng bày các vật cúng ra, đốt đèn, đốt hương, nhưng tôi chẳng biết khấn vái thế nào, cứ ngồi nhìn đèn hương cháy, rồi đốt mấy tờ vàng bạc, coi như đã xong buổi lễ. Tôi đang mài mực thì nghe tiếng trống đánh và loa rao: “Yêu cầu sĩ tử đi biên đề thi!” Tôi lấy giấy, bút mực chạy đến chỗ tấm bảng để biên đề. Trở về lều, tôi mở đề ra đọc và suy nghĩ về ý nghĩa của đề thi. Có câu tôi hiểu tường tận, có câu tôi hiểu lờ mờ, có câu tôi thấy mù tịt. Phải chi hai cậu tôi cùng ở vi tôi, thì tôi có người để hỏi, đằng này các ông lại ở vi khác, tôi như người tứ cố vô thân.

Nhưng rồi tôi bình tĩnh lại. Tôi nghĩ tôi đi thi đây có mong gì đậu ông Tú, ông Cử đâu, mà chỉ là đi cho biết trường thi. Thôi, ai học giỏi thì họ nhờ, mình học dốt thì phải chịu. Rất tiếc là nay đã sáu, bảy mươi năm trôi qua, tôi không còn nhớ đến đề bài thi cũng như bài làm của mình. Nhưng có một điều tôi nhớ không sai là “tôi đã lấy râu ông nọ cắm vào cằm bà kia”. Tôi mượn sự việc và chữ nghĩa của ông Hán Cao Tổ mà tra vào cho ông Tần Thủy Hoàng. Tôi mượn sự dâm ô tàn bạo của ông Trụ mà tra vào đời hiếu thảo tuyệt vời của ông Thuấn. Tôi cặm cụi nháp và viết được một ít vào quyển thì nghe trống đánh, loa gọi đi lấy dấu nhật trung là dấu đúng Ngọ, có ý nhắc nhở cho thí sinh biết là đã thi được nửa ngày rồi, còn nửa phần bài phải làm vào buổi chiều cho xong, nếu không xong là bị ngoại hạng. Dấu nhật trung được đóng vào chữ cuối cùng của câu văn mình đương viết trong quyển. Tôi giở cơm trưa ra ăn, vừa ăn vừa nhìn sang các lều bên cạnh. Tôi thấy ở trại mấy ông tú tài già, có người xúm xít rất đông, thì thầm to nhỏ. Đó là những người học lực kém nhưng lại muốn được tiếng đậu trường nhất, trường nhì để về làng kiếm được chức tổng lý hoặc chạy chọt chút hương sư.

Phần tôi, biết mình phải tự lực nên cố gắng làm cho đủ bài để viết vào quyển. Kiến thức của tôi không có bao nhiêu nên đến xế chiều đã xong 5 đạo văn. Tôi cuốn tròn quyển bỏ vào ống, ung dung đi nộp rồi ra về. Tôi chỉ mang cái tráp có nghiên bút, giấy, còn lều trại và chai, chiếu, các thứ linh tinh khác, tôi bỏ hết.

Tôi về đến nhà trọ rất sớm. Ông chủ trọ tưởng tôi bỏ thi, nhưng khi tôi đưa bài nháp ra, ông vui vẻ nói: “Văn bài cậu thế nào tôi không biết, chớ chữ của cậu tốt quá!” Chữ viết của tôi tốt là nhờ tôi đã mấy năm giúp cha tôi bán thuốc bắc, giao dịch với chủ tiệm người Tàu ở Hội An, tôi phải viết các tên thuốc bằng chữ Hán nên quen tay. Hai cậu tôi thì mãi tối mịt mới về, có lẽ các ông bận làm bài thuê cho nhiều người.

Hơn 10 ngày đi thi ở chốn đế đô, tôi biết thêm nhiều điều thú vị, nhất là mấy cách gian dối để lấy được điểm cao của một số sĩ tử:

1. Một cách phổ biến là: Thí sinh cùng ông tú, cử nào đó ngã giá với nhau đồng ý rồi thì liên hệ với người viết thẻ tre để đặt vấn đề. Người viết thẻ viết tên thầy vào 1 thẻ, tên thí sinh vào một thẻ rồi dùng sợ dây rất nhỏ buộc hai thẻ ấy vào nhau. Khi thẻ đã được dồn lại và phân ra làm 4 phần cho 4 vi, thì thẻ ấy sẽ có mặt ở vi nào đó, thế là thầy và trò chung một vi.

2. Cái trại của thí sinh con quan lớn được thiết kế như cái xe đẩy, gồm có 2 đáy. Ông thầy vào nằm ở đáy dưới. Khi trại được 4 người lính đẩy vào tới trường thi thì ông thầy chui ra, đi lẫn vào đám đông, cái đáy xe liền bị phá để mất dấu. Đến giờ làm bài, ông thầy xuất hiện, gà bài cho cậu thí sinh con quan.

3. Gởi gắm cho quan trường. Việc gởi gắm cho quan trường chỉ dành cho trường hợp các con cháu quan lớn, vì thí sinh đông đúc, làm sao quan trường biết văn bài của thí sinh được gởi mà cho điểm ưu tiên? Vì vậy phải có cuộc gặp riêng trước ngày thi. Thí sinh được chỉ vẽ phải viết một kiểu chữ riêng đặc biệt để khi chấm quyển các quan nhận ra mà nâng điểm.

Trong khoa thi, vui nhất là lễ xướng danh sĩ tử trúng truyển. Các quan trường, từ chánh chủ khảo đến phó chủ khảo đều mũ cao áo dài ra dự lễ. Trước cổng trường thi, người đông như hội. Các cử nhân tân khoa áo khăn đường bệ, trò chuyện hân hoan. Một vài cô thiếu nữ con nhà giàu có ngồi trên xe kéo gọng đồng bóng loáng, lượn qua lượn lại, hình như muốn cậu tân khoa nào để ý đến mình.

Người được xướng đầu tiên là thủ khoa cử nhân. Nhưng loa cứ xướng đi xướng lại năm bảy lần mà chẳng thấy ai lên tiếng. Mãi sau, dễ có gần đến lần thứ mười, mới có người bước ra, nhận mình là thủ khoa. Không phải là vị tân cử nhân này không nghe tiếng loa đâu, nhưng đó là ông ta muốn nhiều người biết đến tên mình, một cách tự quảng cáo khéo léo của nhà nho lúc bấy giờ, tôi nghe các cụ tú, cụ cử già nói vậy.

Phan Thị Mỹ Khanh

Advertisements

Tháng Bảy 29, 2010 - Posted by | 4. Giáo dục

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: