XỨ QUẢNG

Đà Nẵng: Khởi công xây dựng cầu Rồng

Cầu Rồng là cây cầu thứ 9 bắc qua dòng Hàn giang thơ mộng và xinh đẹp chạy giữa lòng Đà Nẵng, đặc biệt hơn, cầu Rồng sẽ là biểu tượng mới của Đà Nẵng trong tương lai

 

 Phối cảnh kiến trúc công trình cầu Rồng.

TP Đà Nẵng chủ trương phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông vận tải theo hướng hiện đại, an toàn, nhanh chóng, thuận lợi và chi phí vận tải hợp lý. Nghiên cứu quy hoạch, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các công trình cầu bắc qua sông Hàn, trong đó có cầu Rồng, phải theo hướng đáp ứng nhu cầu phát triển của TP, có tính hiện đại, có giá trị thẩm mỹ cao làm điểm nhấn kiến trúc cho TP bên bờ sông Hàn thơ mộng và xinh đẹp.

Ngoài ý nghĩa này, cầu Rồng sẽ khơi thông trục giao thông chính Nguyễn Văn Linh từ trung tâm TP theo hướng đông – tây nối từ Sân bay Quốc tế Đà Nẵng đến với các khu du lịch biển đã và đang phát triển ở phía đông TP; góp phần làm giảm đáng kể lưu lượng giao thông qua cầu Sông Hàn đang có dấu hiệu quá tải; đồng thời góp phần khai thác tiềm năng kinh tế du lịch dịch vụ của TP và các tỉnh lân cận thông qua việc kết nối với hệ thống đường du lịch ven biển. Đặc biệt, với kiến trúc độc đáo, cầu Rồng sẽ góp phần tôn thêm vẻ đẹp của thành phố bên bờ sông Hàn.

Để xây dựng cầu Rồng, có đến hơn 1.430 hộ dân, phần lớn ở khu vực trung tâm TP phải giải tỏa hẳn để có mặt bằng xây dựng đường Nguyễn Văn Linh nối dài và cầu Rồng qua sông Hàn. Đâuy là một khó khăn rất lớn, nhất là ở những đô thị như Đà Nẵng.

 

 Phối cảnh kiến trúc công trình cầu Rồng.

Công trình cầu Rồng do Công ty Louis Berger của Hoa Kỳ thiết kế, được xây dựng với quy mô xây dựng vĩnh cửu; tải trọng thiết kế và các tác động tuân thủ Tiêu chuẩn thiết kế cầu 22TCN 272-05. Cầu Rồng có tổng chiều dài cầu: 666,54m, gồm có 5 nhịp chính và 3 nhịp dẫn; khổ rộng cầu, bao gồm: làn xe chạy: 6 x 3,75m + 4 x 0,5m = 24,5m, vỉa hè: 2 x 2,5m = 5m (chưa kể gờ lan can và trang trí), dải phân cách: 6m; khổ thông thuyền: theo phương đứng H = 7m, theo phương ngang B = 50m. Về kết cấu nhịp: phần nhịp chính có chiều dài là 592m với 2 nhịp hai đầu là hộp bê-tông cốt thép dự ứng lực, thi công bằng phương pháp đổ tại chỗ trên đà giáo; 3 nhịp giữa là dầm hộp thép liên tục được treo vào các vòm thép bên trên thông qua hệ thống cáp treo;  mặt cắt ngang là dầm bản rỗng bê-tông cốt thép ứng suất trước.

Về kết cấu mố trụ bằng bê-tông cốt thép đặt trên hệ móng cọc khoan nhồi đường kính lớn. Về kết cấu hạ bộ: phần móng sử dụng cọc khoan nhồi đường kính lớn được chống vào lớp địa chất ổn định với công nghệ thi công hiện đại; phần trụ cầu rỗng và sử dụng cốt thép dự ứng lực để tăng khả năng chịu tải và giảm trọng lượng bản thân của trụ cầu. Về kết cấu thượng bộ: nổi bật với kết cầu vòm chịu lực liên kết với hệ dầm hộp bằng kết cấu cáp dây treo. Đây là kết cấu vòm đặc biệt nhất tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại. Vòm được tổ hợp bởi 5 ống thép có đường kính 1,2m với chiều dài mỗi đốt là 8m được lắp trên trục tim cầu. Việc chế tạo các ống vòm này sẽ phải thực hiện ở các nước có ngành công nghiệp thép phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc…

Công nghệ lắp dựng cũng chưa có công trình nào tương tự nên đòi hỏi phải có những tính toán cẩn thận và kỹ lưỡng. Về kết cấu lan can bộ hành được thiết kế thay đổi chiều rộng để tạo ra các đường cong uốn lượn mềm mại cho thân Rồng. Toàn bộ công trình được sơn 5 lớp để chống tác động ăn mòn bên ngoài và tạo màu sắc cho thân Rồng, cảnh quan và đài phun nước, cùng hệ thống chiếu sáng hiện đại sẽ góm phần tạo nên một hiệu ứng đẹp cho công trình cầu Rồng vào ban đêm. Tổng mức đầu tư xây dựng cầu Rồng là 1.498 tỷ đồng (tương đương 35 triệu USD) từ nguồn vốn đầu tư là vốn ngân sách Nhà nước với thời gian thực hiện từ năm 2009-2012.

Công trình cầu Rồng thể hiện tầm vóc mới của Đà Nẵng trong tương lai qua giải pháp kiến trúc mang hình dáng Rồng đang vươn mình ra biển Đông như là một biểu tượng mới của thành phố đang vươn mình phát triển mạnh mẽ, vững vàng hội nhập với thế giới.

http://hophan.net/?cmd=act:news|newsid:294

Tháng Bảy 16, 2009 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Làng mỹ nghệ trầm Trung Phước

TTO – Tự mày mò mở nghề, chỉ mới mươi năm, những thợ săn trầm và những lái trầm ở  “chợ trầm” Trung Phước, xã Quế Trung (huyện Nông Sơn, Quảng Nam) đã  cho ra loại trầm mỹ nghệ (còn được gọi là trầm cảnh), tạo nên làng nghề mỹ nghệ trầm khá thịnh đạt.

Đến thời điểm này, có thể nói đây là làng mỹ nghệ trầm hương đầu tiên ở nước ta, có sản phẩm bán đến các chợ trầm đầu mối Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Lạng Sơn… để từ đó được chuyển bán các nơi, kể cả ra nước ngoài.

Từ dăm ba hộ mở xưởng buổi đầu, đến nay Trung Phước có đến trên 20 xưởng trầm mỹ nghệ. Có những xưởng lớn có đến hàng chục thợ làm việc quanh năm chuyên tạo những mặt hàng lớn – có giá từ vài chục triệu đến trăm triệu đồng/sản phẩm. Có những xưởng nhỏ với dăm ba thợ làm những mặt hàng nhỏ, giá thấp. 

Nhiều xưởng mới mở với quy mô nhỏ, như xưởng của anh Phan Thanh Hoài, chuyên làm hạt cườm từ gỗ dó, tạo việc làm cho cả nhà.

Ngoài những sản phẩm toàn bằng trầm ròng, phần gỗ trắng  của cây dó (dó là tên quen gọi của cây trầm hương; thân, rễ cây dó có màu trắng, chỗ có nhựa kết tụ có màu sẫm gọi là trầm) cũng được làm hàng mỹ nghệ, để có màu và có hương thơm, người ta phải nấu gỗ dó với chất phụ gia, những sản phẩm này được gọi là hàng nấu.

Một tác phẩm tạo từ cả một cây trầm ròng
Nấu gỗ dó để có hương thơm

Nhu cầu hàng trầm cảnh cho nội địa dần được phát triển. Ngoài vẻ đẹp tự nhiên, theo giới chơi trầm cảnh (nước ngoài), khối trầm cảnh đặt trong phòng có tác dụng trừ khí độc, lợi cho sức khoẻ con người.

Những gốc dó lớn được khoét  chạm để tạo nên bàn thờ Ông Địa như thế này đang được ưa chuộng ở vùng Hội An, Đà Nẵng.
Phần gốc rễ của cây dó luôn cho những sản phẩm đẹp.

Với nghề mỹ nghệ trầm hương, giá trị của cây dó được nâng cao thêm. Người các xưởng trầm Trung Phước luôn lùng mua những cây dó lớn trong vườn nhà của cư dân vùng trung du Quảng Nam với giá khá cao. Và những người xử lý tạo trầm cho cây dó cũng bận rộn với công việc được cho là mới mẻ này.

Lùng mua gốc dó
Xử lý tạo trầm cho cây dó
Nhờ kỹ thuật xử lý tạo trầm cho cây dó, ngoài những đoạn trầm cảnh lớn, sản phẩm trầm mỹ nghệ Trung Phước luôn có những mặt hàng lạ, độc đáo.

HUỲNH VĂN MỸ (Báo Tuổi trẻ)

Tháng Tư 24, 2009 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Nẵng – Thông xe kỹ thuật cầu Thuận Phước, khánh thành tuyến cáp treo Bà Nà

Ngày 25/3/2009, tại Đà Nẵng, tuyến cáp treo một dây dài nhất thế giới và có độ chênh giữa ga dưới – ga trên cao nhất thế giới vừa được khánh thành. Tuyến cáp treo Bà Nà-Suối Mơ được xây dựng theo tiêu chuẩn châu Âu, với tổng vốn đầu tư 300 tỉ đồng.

Đây là tuyến cáp treo một dây được xây dựng theo công nghệ của Công ty Doppelmayr (Áo – quốc gia hàng đầu thế giới về công nghệ cáp treo) với chiều dài hơn 5.000 m, gồm 22 trụ với 380 tấn thép, 94 cabin, công suất phục vụ 1.500 khách/giờ, tốc độ 6m/s, thời gian từ ga đi đến ga đến (hoặc ngược lại) khoảng 15 phút.

Cáp treo Bà Nà, Đà Nẵng

Cáp treo Bà Nà, Đà Nẵng

Việc đưa tuyến cáp treo vào hoạt động sẽ rút ngắn thời gian di chuyển từ thôn An Lợi lên đỉnh Bà Nà. Trước đây du khách muốn lên đỉnh Bà Nà chỉ bằng cách tăng bo xe 16 chỗ ngồi với thời gian khoảng 45 phút cho 15km nhưng rất nguy hiểm vì đường dốc quanh co, nhỏ hẹp.

Tuyến cáp treo sẽ tạo bước đột phá trong việc đánh thức tiềm năng du lịch của Bà Nà nói riêng và Đà Nẵng nói chung.

Cùng ngày, sau 1 tháng hợp long công trình cầu Thuận Phước chính thức được thông xe kỹ thuật

Thông xe kỹ thuật cầu Thuận Phước

Thông xe kỹ thuật cầu Thuận Phước

Cầu Thuận Phước được khởi công từ năm 2003 với chiều dài 1.850m (riêng phần cầu treo dài 650m), rộng 18m cho 4 làn xe, khoảng cách giữa hai trụ 405m, hai trụ tháp cao 92m, tĩnh không thông thuyền 27m, tải trọng thiết kế 10 tấn. Đây là cây cầu treo dây võng dài nhất VN nối đường Nguyễn Tất Thành (từ cửa hầm Hải Vân) với bán đảo Sơn Trà.

Tháng Ba 27, 2009 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Nẵng – Hợp long cầu Thuận Phước

Đúng 9 giờ 25 phút, ngày 26-2, Chủ tịch UBND thành phố Trần Văn Minh phát lệnh hợp long cầu Thuận Phước, chiếc cầu dây võng số một Việt Nam.

Cầu Thuận Phước được UBND TP Đà Nẵng phê duyệt theo Quyết định số 9582/QĐ-UBND ngày 26/11/2002. Sở Giao thông – Vận tải TP Đà Nẵng được giao làm chủ đầu tư. Chiều dài cầu 1.850m (phần cầu treo dài 650m được thiết kế bằng hộp thép hợp kim), mặt cầu rộng 18m, độ tĩnh không thông thuyền 27m, Ngày 16/1/2003, dự án khởi công xây dựng phần cầu dẫn và 10 tháng sau, ngày 31/10/2003, phần cầu võng được khởi công xây dựng.

Cầu Thuận Phước có dự toán ban đầu 598 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành vào tháng 3/2005, đúng dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng TP Đà Nẵng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay cầu Thuận Phước mới được hợp long và dự kiến khánh thành cầu vào dịp kỷ niệm 34 năm giải phóng TP Đà Nẵng, 29/3/2009. Tổng mức đầu tư điều chỉnh cuối cùng là 960 tỉ đồng, trong đó vốn từ ngân sách Trung ương là 460 tỉ đồng. Cầu Thuận Phước được người dân chú ý quan tâm bởi quy mô hoành tráng, dài nhất nước, kiến trúc độc đáo…

Đến chia vui với chính quyền và nhân thành phố nhân sự kiện này, có các đồng chí: Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng; Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Truởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Hoàng Tuấn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch; Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng; Trần Văn Minh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố; đại diện lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành thành phố; cán bộ, kỹ sư, công nhân Viêt Nam và Trung Quốc cùng đông đảo người dân thành phố.

Chủ tịch UBND thành phố Trần Văn Minh phát lệnh hợp long cầu Thuận Phước. Ảnh: V.Phương

Chủ tịch UBND thành phố Trần Văn Minh phát lệnh hợp long cầu Thuận Phước. Ảnh: V.Phương

 

Các đồng chí lãnh đạo thăm cầu Thuận Phước sau lễ hợp long. Ảnh: Thục Yên

Các đồng chí lãnh đạo thăm cầu Thuận Phước sau lễ hợp long. Ảnh: Thục Yên

 

Đông đảo người dân thành phố cùng chung niềm vui ngày cầu Thuận Phước hợp long. Ảnh: V.Phương

Đông đảo người dân thành phố cùng chung niềm vui ngày cầu Thuận Phước hợp long. Ảnh: V.Phương

 

Hợp long cầu Thuận Phước

Hợp long cầu Thuận Phước

Cầu Thuận Phước đã hợp long. Ảnh: Thục Yên

Cầu Thuận Phước đã hợp long. Ảnh: Thục Yên

Chiếc cầu dây võng như dải lụa vắt qua cửa sông Hàn, chiếc cầu minh chứng cho lòng quyết tâm cao độ của thành phố và cả sự gửi gắm, kỳ vọng của người dân thành phố Đà Nẵng về sự phát triển mạnh mẽ của quê hương trong thời gian tới.

 

Tháng Hai 27, 2009 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phát triển làng nghề Quảng Nam: Cần có “nhạc trưởng”

Làng đúc đồng Phước Kiều.

Làng nghề Quảng Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển tốt. Nhiều làng nghề đã được khôi phục và trở thành điểm tham quan thu hút khách du lịch. Thế nhưng, các làng nghề ở Quảng Nam cũng đang đối diện với nhiều khó khăn như: nguồn nhân lực kế cận còn thấp; cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất lạc hậu; khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế…

Mạnh, yếu không đều

Trong 61 làng nghề truyền thống ở Quảng Nam, có những làng nghề được khôi phục và phát triển tốt như: mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, dệt Mã Châu, đúc đồng Phước Kiều, làng rau Trà Quế,… Trong khi đó, cùng một địa phương, chính sách như nhau, nhưng có những làng nghề dù tiềm năng vẫn còn rất lớn nhưng đang có dấu hiệu suy thoái, mai một dần vì không bắt nhịp với thị trường, không chú trọng đầu tư vào mẫu mã sản phẩm, xây dựng thương hiệu.

Làng trống Lâm Yên (Đại Minh, Đại Lộc) là một trong những làng nghề đầy tiềm năng nhưng đang có nguy cơ biến mất vì thiếu vốn, trong khi đầu vào của nguyên liệu sản xuất ngày càng cao thì đầu ra lại chưa ổn định. Anh Phan Lâm, thế hệ thứ năm của tộc Phan – một tộc họ nổi tiếng với nghề trống ở Lâm Yên – cho biết: Cái khó nhất của người làm trống ở Lâm Yên hiện nay là chậm quay vòng đồng vốn, vì khi đem trống đến bỏ cho các cửa hàng thường chỉ được thanh toán khoảng 50%, có khi không được thanh toán đồng nào mà phải đợi đến khi bán được mới nhận được tiền. Đối với các lô hàng đi Nam thì hầu hết là gửi “trắng”, 2-3 tháng sau bạn hàng mới quay lại trả tiền. Sự tồn đọng vốn khiến các hộ sản xuất rơi vào tình trạng khó khăn. Hầu hết họ đều chọn cách “lấy công làm lời”, nghĩa là để cho người đặt (thường là các chủ cửa hàng bán trống) tự mua nguyên liệu rồi đặt họ làm, mỗi ngày công lấy 30.000 – 40.000 đồng. Các xưởng trống ở đây không biết thông qua đâu để tìm nguồn vốn vay nên hầu hết họ đều đi “vay nóng” ở ngoài với lãi suất khá cao mỗi khi cần mở rộng sản xuất kịp thời vụ. Trăn trở của anh Lâm không phải là vô cớ. Những người lớn tuổi trong làng bây giờ chỉ làm nghề bịt sửa lại mặt trống cho khách quen. Lớp trẻ như anh Lâm thì chỉ xem đây là nghề tay trái, làm vào lúc nông nhàn để tăng thêm thu nhập. Còn những thế hệ thứ 6, thứ 7,… và xa hơn nữa thì vẫn chưa biết được có theo nghề hay không.

Trong khi đó, làng làm hương ở Hà Lam (Thăng Bình) lại rơi vào chuyện không đầu tư bao bì, mẫu mã sản phẩm, xây dựng thương hiệu nên nghề gia truyền của hàng trăm hộ dân ở đây đang dần mai một. Một “công” hương (xấp xỉ 1kg hương) kiếm được 10.000 đồng, một lò với hai lao động mỗi ngày có thể làm được 2 “công”/ngày, so với nhiều nghề khác xem ra nghề làm hương cũng khá hơn rất nhiều. Hiện tại trong xóm có khoảng 100 hộ làm hương chuyên nghiệp, còn vài trăm hộ khác chỉ làm vào lúc nông nhàn. Tính ra thì lượng hương do xóm Hương làm ra cung cấp trên thị trường không phải là ít. Thế nhưng, hiện tại nhắc đến xóm Hương, chỉ có người Quảng Nam mới biết được ở đâu, có nghề làm hương đặc biệt. Còn hầu hết ở các nơi, cho dù đang thắp loại hương sản xuất ở chính xóm Hương cũng không hề biết đến nó, vẫn cứ ngỡ loại hương ấy là ởTp. Hồ Chí Minh, Hà Nội…, hay ở bất cứ nơi nào.

Sống nhờ kết hợp du lịch

Du khách tham quan làng mộc.

Trên thực tế thì hầu hết những làng nghề đang “ăn nên làm ra” ở Quảng Nam hiện nay đều là nhờ mạnh dạn kết hợp với du lịch.

Cách liên kết giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp trong việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống ở Hội An là một cách làm hay, khá phù hợp với thực tế của các làng nghề. Từ năm 2003, cùng với sự đầu tư về cơ sở hạ tầng của chính quyền các địa phương có làng nghề, Trung tâm lữ hành Hội An đã xây dựng tour du lịch “Một ngày làm cư dân phố cổ” đưa hàng nghìn du khách trong và ngoài nước đến với các làng nghề truyền thống của Hội An (như: làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng, làng nghề lồng đèn,…

Không chỉ có thu nhập cao từ việc mở cửa đón khách, các làng nghề ở Hội An ngày càng khởi sắc, hồi sinh nhờ bán được sản phẩm. Người dân làng nghề đã biết học tiếng Anh để giao tiếp, biết “lên mạng” để bán hàng, tham gia các lớp học về kinh doanh, quản lý để mở rộng cơ sở sản xuất và kinh doanh. Nhiều nông dân đã trở thành ông chủ, giám đốc các doanh nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề cũng đã xuất khẩu được khá nhiều sang thị trường châu Âu, châu Mỹ,… Thành phố Hội An cũng xúc tiến lập thủ tục đăng ký độc quyền nhãn hiệu hàng hóa cho rau Trà Quế. Nhờ đó, mà rau Trà Quế có cơ hội bước chân vào Metro, siêu thị,… Điều này, nếu chỉ một mình người dân thì không thể nào làm nổi.

Còn tại làng đúc đồng Phước Kiều (Điện Bàn), Phòng Công Thương huyện đã tận dụng nguồn quỹ khuyến công của huyện đầu tư mở các lớp đào tạo tay nghề cho thợ trẻ, xây dựng nhà trưng bày sản phẩm,… “Huyện cũng tập trung kinh phí hỗ trợ các làng nghề trong công tác đào tạo nghề, đăng ký thương hiệu, thành lập hiệp hội làng nghề, tham gia hội chợ trong và ngoài tỉnh, tham quan các mô hình làng nghề làm ăn hiệu quả. Dự kiến kinh phí đầu tư cho các làng nghề trong năm 2008 là 200 triệu đồng”, ông Trần Văn Quang – cán bộ phụ trách làng nghề Phòng Công Thương huyện Điện Bàn – cho biết. Theo ông Quang, hiện tại huyện đã thành lập được một hiệp hội làng nghề mây  tre – lá Điện Bàn và đã đi vào hoạt động khá hiệu quả, đang xúc tiến thành lập thêm các hiệp hội làng nghề đúc đồng Phước Kiều, bánh tráng Phú Chiêm. “Tuy nhiên, việc thành lập hiệp hội tại các làng nghề này đang gặp trở ngại vì không đủ các yêu cầu tư cách pháp nhân theo nghị định của Chính phủ. Hầu hết các làng nghề này đều không có các doanh nghiệp, cơ sở đúng quy định”, ông Quang thừa nhận.

Làng rau Trà Quế.

Ông Trần Úc – Trưởng phòng Công Thương huyện Điện Bàn – cho biết huyện cũng đã có nhiều chương trình cụ thể để hỗ trợ các làng nghề truyền thống. Đặc biệt tập trung vào công tác đào tạo nghề cho lực lượng kế cận, đầu tư xây dựng thương hiệu. Chính quyền huyện hỗ trợ các nghệ nhân bằng cách đầu tư mở cửa nhà truyền thống trưng bày sản phẩm, tổ chức các hội chợ làng nghề, các hội thảo để tìm cách khôi phục làng nghề. Phòng Công Thương huyện phối hợp với Trung tâm Khuyến công và tư vấn công nghiệp tỉnh mở các lớp đào tạo nghề miễn phí cho con em trong vùng.

Cần có “nhạc trưởng”

“Điểm yếu của các làng nghề hiện nay là mẫu mã sản phẩm còn nghèo nàn, chưa xây dựng và giữ gìn được thương hiệu của làng nghề”, anh Dương Ngọc Tiễn – một nghệ nhân ở làng đúc đồng Phước Kiều nhận xét. Như ở Phước Kiều, hàng loạt các cửa hàng trương bảng bán sản phẩm Phước Kiều nhưng thực chất là buôn đồ đồng đúc cả Trung Quốc, Huế, TP Hồ Chí Minh,… Hay như sản phẩm gốm Thanh Hà (Hội An), bao năm nay cũng chỉ quanh quẩn những con tò he, vài chiếc đèn trang trí, nồi gốm. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất của nhiều làng nghề còn nhiều khiêm tốn, thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, lao động phổ thông là chủ yếu; chi phí tiêu hao nguyên vật liệu lớn, giá thành cao; chất lượng sản phẩm kém, chưa tạo ra được sản phẩm độc đáo, kiểu dáng, mẫu mã, bao bì chưa được chú trọng nên sản phẩm làng nghề thường thiếu sức cạnh tranh. Do đó, sản xuất của nhiều làng nghề không ổn định, thu nhập thấp, tích lũy cho tái đầu tư còn nhiều hạn chế. Khả năng tiếp cận nguồn vay tín dụng đầu tư sản xuất của các hộ, HTX, doanh nghiệp,… trong các làng nghề gặp nhiều khó khăn, bởi cơ chế tín dụng đối với vay vốn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác chưa thật sự phù hợp với tính chất hoạt động kinh tế làng nghề (điều kiện thế chấp, tỷ lệ giá trị được vay vốn so với tài sản thế chấp, thời gian vay,…); trong khi đó, sức huy động các nguồn vốn liên kết, liên doanh hoặc nguồn lực của chủ doanh nghiệp làng nghề còn nhiều hạn chế.

Quảng Nam có 41 làng có nghề thủ công truyền thống hình thành trên 100 năm và 20 làng có nghề hình thành dưới 100 năm. Đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt 20 dự án làng nghề, với tổng vốn đầu tư trên 190 tỷ đồng và đã có 19 làng nghề được UBND tỉnh công nhận làng nghề CN-TTCN; Xây dựng 3 mô hình thí điểm làng nghề gắn với du lịch (làng nghề mộc Kim Bồng, làng nghề đúc đồng Phước Kiều, làng nghề ươm tơ dệt lụa Mã Châu). Đã hỗ trợ 18,5 tỷ từ Chương trình mục tiêu quốc gia, Quỹ vay tín dụng để đầu tư hạ tầng cho 18 làng nghề. Đồng thời đã hỗ trợ trên 7,5 tỷ đồng từ nguồn khuyến công để thực hiện các chương trình: đào tạo nghề, nhân cấy nghề, phát triển nghề mới; Hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư thiết bị, đổi mới thiết bị sản xuất cho các cơ sở sản xuất trong làng nghề; Hỗ trợ tiềm kiếm thị trường, xúc tiến đầu tư, tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm mô hình tổ chức, quản lý sản xuất CN-TTCN điển hình; Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở công nghiệp nông thôn; Hỗ trợ quy hoạch cụm, điểm công nghiệp làng nghề;. ..

“Thực tế ở Quảng Nam, những làng nghề đang khởi sắc, phát triển mạnh đều là những làng nghề biết gắn kết với du lịch để thành điểm tham quan, mua sắm cho du khách”, ông Nguyễn Văn Tiếp – chủ cơ sở sản xuất kinh doanh mộc chạm trổ, điêu khắc ở Đông Khương (Điện Bàn) nhận xét.

Những làng nghề đang “ăn nên làm ra” như làng rau Trà Quế, mộc Kim Bồng (Hội An), đúc đồng Phước Kiều (Điện Bàn), lụa Thi Lai – Mã Châu (Duy Xuyên) đều là những làng nghề có các cơ sở, doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Họ như “nhạc trưởng” kéo cả làng nghề đi lên nhờ có vốn, nhạy bén thị trường, có khả năng tổ chức. Nhiều doanh nghiệp, cơ sở vươn ra làm ăn ở thị trường nước ngoài, xuất khẩu các sản phẩm truyền thống và xây dựng các cơ sở vệ tinh từ những hộ sản xuất quy mô nhỏ ở gia đình.

Ông Nguyễn Sơn Thủy – Giám đốc Trung tâm lữ hành Hội An – một trong những doanh nghiệp tiên phong ở Quảng Nam trong việc liên kết với làng nghề mở các tour du lịch làng nghề- nhận xét: Để các làng nghề phát triển, chính quyền cần quy hoạch các làng nghề ổn định, thống nhất, có hướng phát triển lâu dài. Làng nghề phải đảm bảo tính qui mô của làng có hoạt động nghề truyền thống thực sự chứ không chỉ là trình diễn, có như vậy, du khách đến sẽ cảm nhận được một làng nghề có không gian mở, rộng lớn, vẫn còn duy trì các hoạt động bản sắc của làng nghề. Muốn như thế cần có sự đầu tư đúng mức của một doanh nghiệp, có đủ năng lực về tài chính và quản lý để hoạt động của làng liên tục và được quảng bá rộng rãi. Bản thân các cơ sở sản xuất ở làng nghề phải biết liên kết lại với nhau để thành những cơ sở, những doanh nghiệp mạnh ở ngay trong làng. Khi làm được điều này, làng nghề sẽ có lực để bước ra, tìm hiểu thị trường và theo sát được nhu cầu của thị trường.

KHÁNH THỦY (Theo Báo Quảng Nam)

Tháng Mười Hai 2, 2008 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Nẵng: Hội chợ thương mại quốc tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 2008” (Crexpo 2008)

Từ ngày 19/11/2008 đến 23/11/2008, “Hội chợ thương mại quốc tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 2008” (Crexpo 2008) được Bộ Công Thương và UBND TP Đà Nẵng chủ trì tổ chức tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Đà Nẵng.

Đây là một hội chợ lớn có hơn 400 gian hàng tiêu chuẩn của trên 160 doanh nghiệp trong nước thuộc 20 tỉnh/thành và 20 doanh nghiệp nước ngoài, trưng bày giới thiệu tiềm năng và thế mạnh của các tỉnh, thành vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Tây Nguyên; doanh nghiệp VN và các doanh nghiệp nước ngoài. Ban Tổ chức hy vọng Crexpo 2008 sẽ là một cầu nối xúc tiến thương mại quan trọng tại khu vực miền Trung, tạo cơ hội giao thương cho các nhà sản xuất và kinh doanh trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, ngay tại ngày khai mạc, Hội chợ đã quá ít người quan tâm, khách mời đến dự thưa thớt, nhiều gian hàng trống trơn. Công tác chuẩn bị cho Hội chợ chưa hoàn chỉnh, cập rập. Đến ngày khai mạc  nhưng nhiều gian hàng vẫn chưa kịp trưng bày, thậm chí có gian hàng chỉ mới dựng khung gian, có gian hàng còn phủ bạt kín mít, chưa mở cửa.

Bên ngoài mưa gió

Bên ngoài mưa gió

Một trong nguyên nhân khách quan là Hội chợ điễn ra trong thời gian này tại Đà Nẵng là một sai sót về thời điểm tổ chức. Ở Quảng Nam, Đà Nẵng, khoảng thời gian trước sau ngày 23/10 âm lịch (từ ngày 18/11 đến 22/11/2008) thường có mưa lụt theo kinh nghiệm dân gian “Ông tha mà bà chẳng tha. Làm ra cái lụt hăm ba tháng mười”! Do vậy, khách tham quan Hội chợ ít ỏi là điều đương nhiên.

Bên trong vắng vẻ

Bên trong vắng vẻ

Vấn đề quan trọng hơn nữa là thực tế Crexpo 2008 cũng khác rất xa so với những gì được giới thiệu quảng bá. Phần lớn các doanh nghiệp nước ngoài có mặt tại hội chợ chỉ là để phát tờ rơi quảng cáo hàng hoá, trưng bày vài ba mặt hàng đơn giản  máy nổ, hàng thủ công mỹ nghệ…

Chuẩn bị c��p r��p

Chuẩn bị cập rập

Các doanh nghiệp trong nước trưng bày cũng chỉ giới thiệu thổ cẩm, mật ong… ở Tây Nguyên, đồ gỗ gia dụng và mỹ nghệ của Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, TT-Huế…, sản phẩm giá trị thấp như giày dép, cây chùi nhà, dao thái trái cây…Không thấy những sản phẩm có tiếng trong và ngoài nước của doanh nghiệp lớn của VN được trình bày tại Hội chợ.

Sản phẩm đơn điệu

Sản phẩm đơn điệu

Không đúng lúc, chuẩn bị cập rập, sản phẩm đơn điệu …là những đặc điểm làm giảm sút ý nghĩa giá trị của “Hội chợ thương mại quốc tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 2008” (Crexpo 2008) tại Đà Nẵng. 

Tháng Mười Một 20, 2008 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giải thưởng “Resort biển tốt nhất châu Á” thuộc về Quảng Nam

“Resort biển tốt nhất châu Á năm 2008” là giải thưởng mà tập đoàn truyền thông về lữ hành quốc tế TTG Asia vừa trao cho khu du lịch The Nam Hải ở tỉnh Quảng Nam.

HC
Khu du lịch biển The Nam Hải Ảnh: HC

Ngày 13/10, ông Wayne Duberly, Tổng giám đốc khu du lịch biển The Nam Hải (Quảng Nam) cho hay, khu du lịch này vừa được tập đoàn truyền thông về lữ hành quốc tế TTG Asia trao tặng danh hiệu “Khu resort biển tốt nhất châu Á năm 2008”. Giải thưởng được Hội đồng thẩm định TTG công bố hôm 9/10 tại Trung tâm Centara Grand & Bangkok Convention Centre (Thái Lan) nhằm đánh giá các đơn vị có nhiều đóng góp xuất sắc nhất trong ngành công nghiệp du lịch châu Á.

Đây là giải thưởng hằng năm của tập đoàn truyền thông TTG Asia. Để có kết quả chính xác cho danh hiệu này, từ tháng 6-8/2008, độc giả của hệ thống TTG như TTG Asia, TTGmice, Tạp chí điện tử TTG Daily News, TTG China và TTG-BTmice China gồm các đại lý du lịch, đơn vị điều hành tour, giám đốc công ty lữ hành… đã gửi phiếu bầu về ban tổ chức để bình chọn. Cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ, đẳng cấp khách sạn, những giá trị phụ trội và các hoạt động sáng tạo của đội ngũ nhân viên kinh doanh – tiếp thị là những tiêu chí nòng cốt quyết định kết quả cuộc bình chọn.

Sau hai năm đi vào hoạt động, khu du lịch biển The Nam Hải đã đoạt nhiều giải thưởng có uy tín trên thế giới. Năm 2007, The Nam Hải cũng được Tạp chí Cigar Aficionado (Hoa Kỳ) bình chọn là khu nghỉ mát mới tốt nhất thế giới; Tạp chí TTG Travel Awards (châu Á – Thái Bình Dương) bình chọn là khu nghỉ mát bên bãi biển mới tốt nhất. Riêng từ đầu năm 2008 đến nay, The Nam Hải đã được tạp chí Travel + Leisure (Hoa Kỳ) trao giải thưởng  “Resort có thiết kế đẹp nhất thế giới” năm 2008 và tạp chí Arrival + Departure (Úc) trao giải thưởng “Resort tốt nhất châu Á năm 2008”.

Hải Châu (Theo VietNamNet)

Tháng Mười 14, 2008 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

ADB cho vay 196 triệu USD xây dựng Thuỷ điện Sông Bung 4, Quảng Nam

Dự án Thủy điện Sông Bung 4 có công suất 156MW (Ảnh T.A)
Dự án Thủy điện Sông Bung 4 có công suất 156MW (Ảnh T.A)

Theo hiệp định vay vốn ký ngày 6/10 tại Hà Nội, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho Việt Nam vay 196 triệu USD để xây dựng nhà máy thủy điện Sông Bung 4 ở tỉnh Quảng Nam.

Đây là công trình dự án nằm trong sơ đồ khai thác năng lượng hệ thống sông Vu Gia Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam. Dự án thuỷ điện Sông Bung 4 (Quảng Nam) có công suất 156MW, với tổng mức đầu tư là 265,91 triệu USD. Trong đó, vốn vay ADB là 196 triệu USD, vốn đối ứng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là 69,91 triệu USD.

Dự án thủy điện này sẽ bao gồm một hồ chứa bằng bê tông với hạng mục đi kèm như đập tràn xả lũ, hệ thống lấy nước, đường hầm dẫn nước, tháp điều áp, đường ống áp lực (công trình ngầm); một nhà máy điện gồm 2 tổ máy phát tuabin Francis, công suất mỗi tổ 78 MW, kênh xả nước và trạm phân phối.

Dự án không chỉ cung cấp nguồn điện ổn định trên cơ sở khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương, mà còn là mô hình kiểu mẫu về phát triển thủy điện kết hợp với bảo vệ môi trường và xã hội bền vững. Cùng với việc xây dựng nhà máy, dự án còn hỗ trợ cải thiện điều kiện sống và sinh hoạt cho nhóm đồng bào dân tộc thiểu số sống trong vùng dự án thông qua việc cung cấp khu tái định cư mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục và giao thông.
Dự kiến dự án thủy điện này sẽ khởi công năm nay và hoàn thành vào năm 2013.

Hà Phan tổng hợp

Tháng Mười 7, 2008 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thu hút đầu tư ở Quảng Nam- cần một tư duy mới

Hội thảo đầu tư "Quảng Nam- 10 năm một chặng đường"

Hội thảo đầu tư "Quảng Nam - 10 năm một chặng đường"

Điều các nhà đầu tư quan tâm nhất hiện nay là ngoài cơ chế thông thoáng, Quảng Nam cần hoàn thiện quy hoạch các khu công nghiệp, đồng thời gắn kết với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Tính đến cuối năm 1998, tỉnh Quảng Nam thu hút được 12 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 198 triệu USD. Nhưng cũng từ đó đến nay, bằng chính sách thông thoáng và môi trường đầu tư dần được cải thiện, từ năm 1997 đến nay, tỉnh Quảng Nam đã thu hút được 26.000 tỷ đồng nguồn vốn đầu tư trong nước và trên 766 triệu USD vốn còn hiệu lực của 100 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các dự án lớn như Nhà máy sản xuất và lắp rắp ô tô Trường Hải, Nhà máy gạch men Đồng Tâm, Nhà máy kính nổi của tập đoàn than- khoáng sản Việt Nam, Nhà máy thuỷ điện A Vương và các Dự án Khu du lịch The Nam Hải, Dự án khu du lịch Cát Vàng cùng hệ thống khách sạn tác động tích, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá của Quảng Nam theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, tạo việc làm cho 271.000 lao động.

Từ năm 1997 đến 6 tháng đầu năm 2008, các doanh nghiệp FDI đã nộp vào ngân sách Nhà nước 248,010 triệu USD tiền thuế các loại (năm 1997 nộp 6,537 triệu USD, năm đến năm 2007 nộp 95,001 triệu USD và 6 tháng đầu năm 2008 nộp 69,835 triệu USD).

Vẫn còn vướng trong việc đền bù giải toả

Tuy nhiên, dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn vẫn còn hạn chế, chất lượng quy hoạch phát triển các dự án đầu tư chưa đảm bảo, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư còn nhiều vướng mắc và trì trệ kéo dài, thiếu đội ngũ lao động có tay nghề và lao động có trình độ đại học cũng làm một số nhà đầu tư cảm thấy chưa yên tâm triển khai thực hiện các dự án…

Ông Peter Ryder, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Quản lý quỹ Indochina Capital cho biết: “Trong quá trình thực hiện dự án ở Quảng Nam chúng tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của UBND tỉnh và cơ quan các cấp. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất vẫn là vấn đề đền bù giải tỏa. Cơ quan chức năng vẫn chưa triệt để và kiên quyết trong công tác này”.

Ông Peter Ryder Chủ tịch HĐQT Indochina Capital

Ông Peter Ryder Chủ tịch HĐQT Indochina Capital

Ông Peter Ryder dẫn chứng cụ thể: Khu du lịch The Nam Hải đã đi vào hoạt động 2 năm nhưng vẫn còn 4 hộ dân chưa chịu di rời; rồi Dự án sân golf 18 lỗ Mongolinks nhưng mới xây được 13 lỗ phải dừng thi công vì không di dời giải tỏa được các hộ dân ở xung quanh. Dự án khu biệt thự Malibu mất hơn 3 năm vẫn chưa hoàn thành việc giải tỏa…

Nhằm đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư và đẩy nhanh hơn nữa tốc độ thu hút đầu tư trong những năm tới, tỉnh Quảng Nam đã lập danh mục 16 dự án đầu tư quốc gia vào Quảng Nam giai đoạn 2007-2010 và các năm tiếp theo trình Chính phủ phê duyệt như Dự án Đường cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi, Dự án Nhà máy Xi măng Thạnh Mỹ, Dự án Khu du lịch vui chơi giải trí đặc biệt xã đảo Tam Hải (huyện Núi Thành) và Dự án Khu Thương mại Tự do Chu Lai…

Hiện nay, tỉnh Quảng Nam đang tích cực hỗ trợ nhà đầu tư hoàn thành các thủ tục đầu tư cho một số dự án du lịch lớn với tổng vốn đầu tư nhiều tỉ USD như: Dự án của Tập đoàn Sama Dubai (Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Dự án Dragon Beach Resort (Hoa Kỳ), Dự án của Tập đoàn Vina Capital; và Dự án Khu thương mại tự do Chu Lai của Tập đoàn Indochina (Hoa Kỳ).

Từ thành quả thu hút đầu tư trong hơn 10 năm qua, định hướng từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Quảng Nam tiếp tục tập trung ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp- xây dựng, dịch vụ, nông-lâm ngư nghiệp, thu hút các dự án có công nghệ-kỹ thuật cao từ các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước, hợp tác phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ; đồng thời chú trọng thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư các nước EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản…

Ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty Đồng Tâm chia sẻ: “Đồng Tâm là 1 trong những nhà đầu tư sớm nhất tại Quảng Nam và Khu công nghiệp Điện Nam- Điện Ngọc. Trải qua hàng loạt khó khăn, giờ đây, chúng tôi mới khẳng định được rằng quyết tâm đầu tư không vì lợi nhuận đã mang lại cho chúng tôi nhiều cái lợi lâu dài. Là nhà đầu tư ở cả 3 miền Bắc- Trung- Nam, chúng tôi có thể khẳng định, Quảng Nam hoàn toàn có thể phát triển mạnh hơn, xa hơn hiện nay. Điều cần nhất lúc này là ngoài cơ chế thông thoáng, Quảng Nam cần có quy hoạch các Khu công nghiệp có tầm nhìn 100 năm hoặc hơn nữa. Có như vậy, nhà đầu tư mới yên tâm đổ tiền của vào làm ăn tại đất Quảng”.

Đến nay, Khu kinh tế mở Chu Lai đã thu hút gần 54 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 1,8 tỷ USD. Nhiều tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới đã có mặt và đang nghiên cứu tìm hiểu cơ hội đầu tư vào đây.

Nếu như những năm trước đây, chỉ thu hút được các nhà đầu tư sản xuất thì nay đã xuất hiện các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng các khu chức năng như khu công nghiệp, khu phi thuế quan, khu đô thị, bến cảng, sân bay Chu Lai…

Không ngừng cải thiện môi trường đầu tư

Để làm được điều đó, tỉnh Quảng Nam đang tập trung nguồn vốn để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước viễn thông kết nối với các KCN, khu vực dự án kinh tế trọng điểm. Cụ thể là đầu tư xây dựng Cầu Cửa Đại (1.200m), đường ven biển Duy Hải-Chu Lai (60km); Cầu Giao Thuỷ nối Đại Lộc và Duy Xuyên; Đường QL14E nối dài đến xã Bình Đào, huyện Thăng Bình…

Ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết: Để các nhà đầu tư mạnh dạn, yên tâm đổ vốn vào Quảng Nam đầu tư, tỉnh cần phải thực hiện các giải pháp như: Đó là nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện quy hoạch các khu công nghiệp, thu hút đầu tư theo từng vùng, miền của tỉnh, đồng thời gắn kết với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, rà soát hệ thống quy trình cấp phép cho nhà đầu tư. Thể hiện tính minh bạch, công khai quy trình cấp phép; giảm tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm đúng quy định pháp luật. Công khai việc đền bù giải phóng mặt bằng; vận động nhân dân thực hiện quyết định tái định cư; Giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống người dân ở vùng dự án một cách bền vững bền vững…

Nên chăng, ngay từ bây giờ, tỉnh Quảng Nam cần hệ thống lại quãng thời gian 10 năm qua, từ khi tách tỉnh, rút bài học kinh nghiệm từ các dự án đã thành công, kể cả những dự án thất bại trên địa bàn. Không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, Quảng Nam đủ sức đón nhận thêm nhiều dự án đầu tư lớn, đặc biệt là làn sóng FDI mới sẽ đổ vào Việt Nam theo lộ trình mà Việt Nam cam kết trong WTO và các hiệp định thương mại- đầu tư song phương với các nước và vùng lãnh thổ./.

Hải Sơn (Theo VOV News)

Tháng Chín 29, 2008 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nông Sơn: Giấc mơ du lịch

Được vui chơi ở đầu nguồn sông Thu Bồn, du khách vô cùng hứng thú.
Được vui chơi ở đầu nguồn sông Thu Bồn, du khách vô cùng hứng thú.

Miền tây Quế Sơn từ xưa xa đã vang danh những thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa với Đèo Le, Trung Phước, Hòn Kẽm Đá Dừng, Đại Bình, căn cứ Tân Tỉnh… Nơi đây, đất đai, con người nổi tiếng chịu đựng sự khắc nghiệt, dữ dội của thiên tai, hình thành những văn nhân, và những cá tính độc đáo… Còn chuyện bây giờ, khi chia tách từ Quế Sơn, làm gì để huyện Nông Sơn được biết đến nhiều hơn từ du lịch?

Ngành du lịch Quảng Nam, các công ty lữ hành trong và ngoài tỉnh đã dự định một lộ trình đưa khách về Nông Sơn theo đường thủy bằng thuyền máy theo sông Thu Bồn, lên thăm Hòn Kẽm Đá Dừng hùng vĩ, ngược về ghé làng Đại Bình quanh năm sum suê cây trái… Hoặc, sẽ có tour đưa du khách bằng đường bộ theo quốc lộ 1A, từ Hương An lên ghé Đèo Le thưởng thức món gà ta ngon nức tiếng rồi đến những điểm trên… Một lộ trình khác để đến Nông Sơn là sau khi đi thăm Mỹ Sơn, du khách vượt khoảng 12 cây số qua Trung Phước. Với lộ trình như thế, Nông Sơn có vẻ không còn quá xa cách với các điểm du lịch như Hội An, Mỹ Sơn, Đà Nẵng… Vấn đề là sản phẩm du lịch, dịch vụ nào để Nông Sơn là điểm đến hấp dẫn?

Chúng tôi lên một chiếc thuyền máy được đặt chỗ trước tại bến đò Tí Bồi, xã Quế Lâm. Quán nước ở bến đò có nhiều trẻ em chào mời khách mua bòng, bưởi với giá rẻ như cho, thỉnh thoảng có những mục đồng cỡi trâu từ biền bãi trở về, vợ chồng vài ngư dân mệt mỏi vác lưới lên bờ sau một đêm mưu sinh; dưới sông, nhiều chủ thuyền đò còn ngái ngủ… Khung cảnh yên bình khiến du khách như tìm lại được “quê hương” đã từ lâu vắng xa. Chủ đò tên Hai nổ máy, rồi giao cho người phụ lái, ông bò lên phía trước làm… hướng dẫn viên cho khách. Du khách tò mò hỏi về các địa danh, ông “hướng dẫn viên” bất đắc dĩ thỉnh thoảng lại gãi đầu nói: “Ông bà hồi xưa kêu sao, tui biết vậy!”, rồi cười. Có người bảo “vui hè”, mà không ai nỡ trách ông chủ đò kiêm… hướng dẫn viên. Nhưng ông cũng không làm cho khách phải thất vọng nhiều, này là Khe Nghiêng, Đá Bàn, Đá Mài, Nước Mắt, Ba Hang, Vũng Tăm… mỗi địa danh kèm theo một câu chuyện nhỏ ít nhiều gợi lên chút tò mò cho những ai ở xa mới đến.

Sau một giờ chạy thuyền máy thì đến khu vực Hòn Kẽm, hai bên bờ đá dựng hùng vĩ, cây núi, cỏ rừng xanh biếc bám kín những vách núi đá tạo nên muôn hình dạng kỳ thú. Người dân địa phương nói, đi chơi ở Hòn Kẽm, nếu được ở lại đêm ở đây – một đêm có trăng, mới thấy thật kỳ thú. Vào buổi chiều tà – không gian ở hai bờ đá dựng này thường đón mặt trời lên muộn và chiều xuống nhanh hơn – sẽ thấy màu núi đá biến đổi kỳ lạ. Từng đàn khỉ trong núi kéo ra tắm sông, đùa giỡn nhau chí chóe. Phía xa xa, những chiếc đò ngang, đò dọc nổi khói thổi cơm chiều. Đêm đến, sẽ thấy trăng treo trên nền trời như tranh, trong lặng im sẽ nghe được sông hát… Đứng ở thung lũng Hòn Kẽm Đá Dừng, nơi dòng Thu Bồn thắt lại lần cuối cùng ở vùng thượng lưu rồi buông mình chảy qua biết bao bờ bãi về xuôi cạnh những ngôi làng Hiệp Hòa, Hiệp Thuận (Hiệp Đức) còn yên bình hơn cả phía thượng nguồn này, cảm xúc của du khách sẽ trải nhiều cung bậc…

Nhà cụ Nguyễn Lạng có khả năng là điểm “home stay” đầu tiên của làng Đại Bình khi du lịch phát triển
Nhà cụ Nguyễn Lạng có khả năng là điểm “home stay” đầu tiên của làng Đại Bình khi du lịch phát triển

Từ đây, nếu đi tiếp bằng thuyền máy ngược về làng Đại Bình, sẽ mất gấp đôi thời gian, ai thiếu kiên nhẫn hoặc eo hẹp thời gian chắc không chọn cách đi này. Nhưng bù lại, dân Đại Bình và vùng đất được mệnh danh là làng Nam Bộ giữa miền Trung này sẽ làm du khách hài lòng. Ít có làng quê nào trên đất nước này biết đến “du lịch” mà con nít còn biết khoanh tay cúi chào khách phương xa lễ phép như ở Đại Bình. Đường làng Đại Bình vô cùng sạch sẽ, có hàng rào chè xanh tô điểm, nhìn qua như tất cả mọi nhà chỉ chung một thứ hàng rào như thế. Vườn Đại Bình quanh năm xanh tốt, có mặt gần như đủ thứ cây trái của Nam Bộ, đặc biệt cây trụ lông – một thứ trái cây độc đáo, chỉ riêng có của Đại Bình, giống như bưởi, vị ngọt, thơm – là niềm tự hào của người dân quê. Một lão nông nói, các thứ cây trái trồng ở khu vườn đầu làng khác vị với cây trái ở cuối làng, còn quả trụ lông chỉ cho một vị duy nhất.

Bữa cơm tại nhà ông Nguyễn Lạng (68 tuổi) khách phương xa sẽ được đãi sầu riêng, canh lá sen núi, măng điền trúc trộn, nhấm nháp con tôm sông to ú mặn mà… Hàng chục vườn nhà đầy các thứ cây trái sẽ chờ du khách đến thăm sau đó. Chị Lan – người phục vụ nhà bếp cho bữa ăn trưa của đoàn khách nói, họ đã từng phục vụ đoàn khách đến hơn 170 người với điều kiện phải điện thoại dặn trước. Nếu được dặn trước nữa, chủ nhà này – bác Lạng sẽ đi gom trái cây của bà con trong làng về cho đoàn, ai cũng có cơ hội vừa bán, vừa tặng để giới thiệu chút quà quê hiếm có cho mọi người… Ông Lạng thiệt thà cười hỏi: “Tụi tui làm rứa có kêu là làm du lịch được chưa mấy chú? Dân tui mấy đời hiếm ra khỏi làng, giờ phải có người bày biểu mới làm ngon được”.

Nói rằng Nông Sơn có tiềm năng du lịch, quả không sai. Nhưng việc tổ chức có bài bản, kết nối lộ trình thuận lợi cho du khách, đa dạng hóa sản phẩm (như du lịch tát mương bắt cá ở miệt vườn Nam Bộ làm dân Tây mê tít…) thì còn phải tính toán lâu dài, để gọi là bù lại cho công sức du khách vượt đường sá xa xôi mà tới. Người dân Đại Bình dù được thiên nhiên ưu đãi cho đất đai phì nhiêu tươi tốt nhưng chưa hẳn đã giàu có, cần tạo điều kiện để cả làng có cơ hội làm ăn từ du lịch, vậy mới lâu bền. Có một điểm mà các nhà làm du lịch có lẽ quên, là làng nghề chế tác trầm cảnh ở Quế Trung cũng rất độc đáo chưa đưa vào tour, mà khách đến đó chắc là mê, thậm chí sẽ bán được nhiều hàng nếu nắm được ý thích của khách. Ông Phạm Phú Thủy – Phó Chủ tịch UBND huyện Nông Sơn nói, huyện mới tách ra bộn bề lắm lắm, nhưng sẽ cố gắng quan tâm để đưa du lịch phát triển, chuyện này rất cần sự quan tâm của tỉnh, ngành du lịch, các nhà làm tour.

Nông Sơn, giấc mơ một cửa ngõ du lịch thật đẹp!

Ông Hồ Tấn Cường – Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch:

Nông Sơn giàu tiềm năng du lịch, để đa dạng sản phẩm, kéo du khách về đây cần có sự nghiên cứu, đầu tư, chọn cách làm phù hợp. Sở sẽ phối hợp, tham khảo ý kiến của các nhà làm tour, tranh thủ đầu tư từ nhiều nguồn mới vực dậy được miền đất nhiều hứa hẹn này…

DOÃN HOÀNG (Theo Báo Quảng Nam)

Tháng Tám 16, 2008 Posted by | 2. Kinh tế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?