XỨ QUẢNG

Khen thưởng học sinh giỏi tại Bảo An

Ngày 22/8/2010, Hội Khuyến học tộc Phan Bảo An tại Bảo An, Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam đã tổ chức tuyên dương phát thưởng cho con cháu có thành tích học tập tốt năm học 2009 – 2010 tại Nhà thờ Phan Cả

Đến tham dự, có đông đảo bà con hội viên và các cháu học sinh giỏi

Sau đây là hình ảnh của buổi tuyên dương

Advertisements

Tháng Chín 30, 2010 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nữ học sinh Đà Nẵng đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU lần thứ 39 năm 2010

Bức thư gửi đến đạo diễn Trương Nghệ Mưu của em Hồ Thị Hiếu Hiền, học sinh Trường THCS Tây Sơn, TP Đà Nẵng vừa đoạt giải nhất cấp quốc tế cuộc thi viết thư quốc tế do UPU (Liên minh Bưu chính Thế giới) tổ chức.

Sau đây là toàn văn bức thư

Tháng Chín 9, 2010 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Kể chuyện thi cử ngày xưa

Ông Phan Nhụy, anh ruột của hai ông Phan Thanh và Phan Bôi, vì là con lớn trong gia đình, phải lao động giúp cha mẹ làm ăn, không được học hành đến nơi đến chốn, mà chỉ học chữ Hán và chữ quốc ngữ ở trình độ đọc thông viết thạo. Tuy nhiên ông cũng đã dự một khoa thi Hương tại Huế vào năm 1913. Sau đây là những việc mắt thấy tai nghe ở trường thi do ông kể lại trong tập hồi ký ông viết năm 1978.

… Làng tôi có lệ, ai đã dự thi Hương ở Huế, bất kể đậu rớt đều được miễn làm các tạp dịch trong làng. Vì vậy, tuy văn chương tôi chưa có bao nhiêu, tôi chưa tích lũy được nhiều kiến thức, tôi cũng quyết tâm đi thi khoa này. Được cha mẹ đồng ý, trước tiên tôi dự một lớp học ôn vào năm 1912, do ông Tú  Phan Khôi mở dạy trong làng. Sau đó, tôi phải qua một kỳ sát hạch tại tỉnh Quảng Nam, nếu đậu mới được ghi tên vào danh sách dự thi.

May sao, hôm đi xem bảng, thấy tên mình trúng tuyển, tôi vô cùng vui sướng, chuẩn bị qua giêng lên đường ra miền sông Hương, núi Ngự.

Đúng ngày quy định, văn nhân sĩ tử cả 5 tỉnh Bình, Trị, Thiên, Nam Ngãi đầu tập trung về chốn cố đô. Nhìn trước ngó sau, tôi thấy mình sao bé nhỏ quá, giống như một tiểu đồng đi bưng điếu tráp hầu hạ một ông quan chứ không phải học trò đi thi, tuy tôi cũng đã 17 tuổi. Cùng đi với tôi có hai cậu là anh em ruột với mẹ tôi. Hai cậu đã có bằng tú tài, nhưng vì nhà rất nghèo, đi dự thi để vào được trường thi làm bài giúp học trò dốt kiếm tiền, chứ không phải thi để lấy bằng cấp cao hơn. Hai ông dẫn tôi đến khu vực trường thi, hướng dẫn cho tôi một số việc cần chuẩn bị, rồi đưa nhau đi đâu không rõ.

Cảnh trường thi ngày xưa. Ảnh tư liệu.

Trường thi là một khu đất trống khoảng 10 mẫu, chung quanh có thành bao bọc. Bên trong, có con đường thập đạo chia khu đất thành 4 vi, vi tả, vi hữu, vi giáp và vi ất. Hai bên đường thập đạo là thành cao vừa quá đầu người để ngăn cách người qua lại. Mỗi thí sinh đi thi phải mang theo 3 quyển, mỗi quyển có 10 tờ giấy, khổ rộng. Mặt trước quyển ghi sẵn tên họ, xã, tổng, phủ, huyện, tỉnh, niên canh và cung khai tam đại, nghĩa là tên tuổi cha, ông nội, già hay trẻ, sống hay chết.

Danh sách thí sinh các tỉnh đã được gởi về đây để các quan chấm thi nắm được mà làm thẻ tre. Trên mỗi thẻ tre ghi tên họ thí sinh. Xong rồi các quan trường ra chia thẻ ấy làm 4 đống cho 4 vi. Căn cứ theo đó, họ lập ra bảng danh sách thí sinh ở mỗi vi, treo bảng danh sách ấy ở cửa vi vào chiều hôm trước để thí sinh biết mà vào trường thi khi nghe xướng đến tên mình.

Chung quanh khu vực trường thi, những dụng cụ cần thiết cho thí sinh đều được bày bán đầy đủ.

Trước hết, tôi mua cái lều. Đó là một tấm hình vuông do lá tơi kẹp lại, mỗi cạnh chừng một thước rưỡi. Tôi lại mua 4 cái trụ, 4 khoanh dây đay, 4 cái cọc tre vót nhọn, 1 cái vồ đục để đóng cọc, 1 chai đựng nước uống và 1 ống trúc đựng quyển. Ống trúc có nắp, trên nắp có khung để xỏ giây vào khung ấy mà mang. Tôi không quen mang hương, đèn, giấy cúng, vàng bạc để khi dựng lều xong thì cúng âm hồn theo lời cha tôi dặn.

Đến ngày thi, tôi thức dậy lúc 1 giờ sáng để từ nhà trọ lên đường. Vai bên tả tôi mang một cái tráp, trong tráp đựng nghiên, bút, mực, giấy nháp và các lễ vật để cúng. Cái tráp ấy cũng là cái bàn để tôi làm bài. Vai bên hữu, tôi mang lều trại, gồm trụ và dây, kèm theo có manh chiếu con để trải trong trại.

Tôi dò dẫm bước về phía trường thi, lúc đầu thì còn dễ đi, đến khi gần tới trường, người đông đúc, phải chen lấn rất khó khăn.

Thí sinh ở Huế thì có cha mẹ, anh em đưa đi, kẻ mang giúp cái này, người mang cái nọ. Có người mang theo lồng đèn đỏ đủ màu sắc khiến cho cả khu vực trường thi lấp lánh như sao rất đẹp.

Thí sinh con quan lớn thì sắm cái lều như cái xe, chung quanh được che bằng lá tơi. Trong xe có cái sạp bằng tre, đặt cái bàn con ngồi làm văn và viết quyển. Cái lều xe này do 4 người lính đẩy tới cổng trường mới trở ra.

Thí sinh là con của thường dân thì không những trăm việc đều tự tay làm lấy, mà khi vào trường còn bị kiểm tra lục soát rất kỹ.

Tôi xem bảng, biết mình sẽ thi tại vi ất nên đứng sẵn chờ nghe tên, nhưng người tôi đã thấp bé lại mang đồ đoàn lỉnh kỉnh, vì vậy có nghe loa gọi tên nhưng không làm sao chen vào để lãnh quyển. Lúc trời đã sáng, thí sinh vào trường gần hết, tôi mới vào được. Thấy mọi người chung quanh đã đóng xong lều trại, tôi vội soạn các thứ ra, nhìn chung quanh để bắt chước họ. Tôi cũng bày các vật cúng ra, đốt đèn, đốt hương, nhưng tôi chẳng biết khấn vái thế nào, cứ ngồi nhìn đèn hương cháy, rồi đốt mấy tờ vàng bạc, coi như đã xong buổi lễ. Tôi đang mài mực thì nghe tiếng trống đánh và loa rao: “Yêu cầu sĩ tử đi biên đề thi!” Tôi lấy giấy, bút mực chạy đến chỗ tấm bảng để biên đề. Trở về lều, tôi mở đề ra đọc và suy nghĩ về ý nghĩa của đề thi. Có câu tôi hiểu tường tận, có câu tôi hiểu lờ mờ, có câu tôi thấy mù tịt. Phải chi hai cậu tôi cùng ở vi tôi, thì tôi có người để hỏi, đằng này các ông lại ở vi khác, tôi như người tứ cố vô thân.

Nhưng rồi tôi bình tĩnh lại. Tôi nghĩ tôi đi thi đây có mong gì đậu ông Tú, ông Cử đâu, mà chỉ là đi cho biết trường thi. Thôi, ai học giỏi thì họ nhờ, mình học dốt thì phải chịu. Rất tiếc là nay đã sáu, bảy mươi năm trôi qua, tôi không còn nhớ đến đề bài thi cũng như bài làm của mình. Nhưng có một điều tôi nhớ không sai là “tôi đã lấy râu ông nọ cắm vào cằm bà kia”. Tôi mượn sự việc và chữ nghĩa của ông Hán Cao Tổ mà tra vào cho ông Tần Thủy Hoàng. Tôi mượn sự dâm ô tàn bạo của ông Trụ mà tra vào đời hiếu thảo tuyệt vời của ông Thuấn. Tôi cặm cụi nháp và viết được một ít vào quyển thì nghe trống đánh, loa gọi đi lấy dấu nhật trung là dấu đúng Ngọ, có ý nhắc nhở cho thí sinh biết là đã thi được nửa ngày rồi, còn nửa phần bài phải làm vào buổi chiều cho xong, nếu không xong là bị ngoại hạng. Dấu nhật trung được đóng vào chữ cuối cùng của câu văn mình đương viết trong quyển. Tôi giở cơm trưa ra ăn, vừa ăn vừa nhìn sang các lều bên cạnh. Tôi thấy ở trại mấy ông tú tài già, có người xúm xít rất đông, thì thầm to nhỏ. Đó là những người học lực kém nhưng lại muốn được tiếng đậu trường nhất, trường nhì để về làng kiếm được chức tổng lý hoặc chạy chọt chút hương sư.

Phần tôi, biết mình phải tự lực nên cố gắng làm cho đủ bài để viết vào quyển. Kiến thức của tôi không có bao nhiêu nên đến xế chiều đã xong 5 đạo văn. Tôi cuốn tròn quyển bỏ vào ống, ung dung đi nộp rồi ra về. Tôi chỉ mang cái tráp có nghiên bút, giấy, còn lều trại và chai, chiếu, các thứ linh tinh khác, tôi bỏ hết.

Tôi về đến nhà trọ rất sớm. Ông chủ trọ tưởng tôi bỏ thi, nhưng khi tôi đưa bài nháp ra, ông vui vẻ nói: “Văn bài cậu thế nào tôi không biết, chớ chữ của cậu tốt quá!” Chữ viết của tôi tốt là nhờ tôi đã mấy năm giúp cha tôi bán thuốc bắc, giao dịch với chủ tiệm người Tàu ở Hội An, tôi phải viết các tên thuốc bằng chữ Hán nên quen tay. Hai cậu tôi thì mãi tối mịt mới về, có lẽ các ông bận làm bài thuê cho nhiều người.

Hơn 10 ngày đi thi ở chốn đế đô, tôi biết thêm nhiều điều thú vị, nhất là mấy cách gian dối để lấy được điểm cao của một số sĩ tử:

1. Một cách phổ biến là: Thí sinh cùng ông tú, cử nào đó ngã giá với nhau đồng ý rồi thì liên hệ với người viết thẻ tre để đặt vấn đề. Người viết thẻ viết tên thầy vào 1 thẻ, tên thí sinh vào một thẻ rồi dùng sợ dây rất nhỏ buộc hai thẻ ấy vào nhau. Khi thẻ đã được dồn lại và phân ra làm 4 phần cho 4 vi, thì thẻ ấy sẽ có mặt ở vi nào đó, thế là thầy và trò chung một vi.

2. Cái trại của thí sinh con quan lớn được thiết kế như cái xe đẩy, gồm có 2 đáy. Ông thầy vào nằm ở đáy dưới. Khi trại được 4 người lính đẩy vào tới trường thi thì ông thầy chui ra, đi lẫn vào đám đông, cái đáy xe liền bị phá để mất dấu. Đến giờ làm bài, ông thầy xuất hiện, gà bài cho cậu thí sinh con quan.

3. Gởi gắm cho quan trường. Việc gởi gắm cho quan trường chỉ dành cho trường hợp các con cháu quan lớn, vì thí sinh đông đúc, làm sao quan trường biết văn bài của thí sinh được gởi mà cho điểm ưu tiên? Vì vậy phải có cuộc gặp riêng trước ngày thi. Thí sinh được chỉ vẽ phải viết một kiểu chữ riêng đặc biệt để khi chấm quyển các quan nhận ra mà nâng điểm.

Trong khoa thi, vui nhất là lễ xướng danh sĩ tử trúng truyển. Các quan trường, từ chánh chủ khảo đến phó chủ khảo đều mũ cao áo dài ra dự lễ. Trước cổng trường thi, người đông như hội. Các cử nhân tân khoa áo khăn đường bệ, trò chuyện hân hoan. Một vài cô thiếu nữ con nhà giàu có ngồi trên xe kéo gọng đồng bóng loáng, lượn qua lượn lại, hình như muốn cậu tân khoa nào để ý đến mình.

Người được xướng đầu tiên là thủ khoa cử nhân. Nhưng loa cứ xướng đi xướng lại năm bảy lần mà chẳng thấy ai lên tiếng. Mãi sau, dễ có gần đến lần thứ mười, mới có người bước ra, nhận mình là thủ khoa. Không phải là vị tân cử nhân này không nghe tiếng loa đâu, nhưng đó là ông ta muốn nhiều người biết đến tên mình, một cách tự quảng cáo khéo léo của nhà nho lúc bấy giờ, tôi nghe các cụ tú, cụ cử già nói vậy.

Phan Thị Mỹ Khanh

Tháng Bảy 29, 2010 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Quảng Nam: người người làm khuyến học

(Dân trí) – Thành lập trước Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam 5 năm và chỉ trong vòng 10 năm đã cấp phát 37 tỷ đồng học bổng là những con số ấn tượng về Hội Khuyến học tỉnh Quảng Nam.

Người người làm khuyến học

Học bổng đất Quảng trao cho các sinh viên đại học có thành tich học t��p xuất sắc.

Học bổng đất Quảng trao cho các sinh viên đại học có thành tích học tập xuất sắc.

Năm 2008 này, trong khi Trung ương Hội Khuyến học (KH) Việt Nam kỉ niệm 12 năm thành lập thì Hội KH Quảng Nam đã tổ chức kỉ niệm 17 năm. Bởi lẽ, tháng 10/1991, Hội KH Quảng Nam đã được thành lập, “già” hơn 5 tuổi so với Trung ương Hội KH Việt Nam!

Một số cán bộ làm công tác KH cho biết, trước khi Trung ương Hội KH Việt Nam được thành lập, nhiều đoàn của trung ương đã đến tham quan, học tập kinh nghiệm tại Quảng Nam. Vì vậy, có thể nói hoạt động của Hội KH Quảng Nam ít nhiều đã có sự tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng và phát triển của Hội KH Việt Nam.

Từ chỗ chỉ có vài huyện, thị hội, vài chục tổ chức cơ sở hội với khoảng 5 nghìn hội viên vào năm 1991, hiện tại Hội KH Quảng Nam là một tổ chức xã hội rộng lớn gồm 18 hội KH huyện, thành phố, 231 xã, phường, thị trấn, 522 chi hội trường học, 1.130 chi hội thôn, khối phố, 226 cơ quan, 981 tộc, họ; 200 chi hội tổ đoàn kết. Ngoài ra, hội đồng hương Quảng Nam tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã thanhỳ lập hội KH, hàng năm trao cả trăm triệu đồng học bổng.

Không chỉ ở đồng bằng, vùng thuận lợi, tổ chức KH còn hiện diện ở cả các vùng núi, vùng khó khăn của tỉnh. Nhiều xã, thôn của các huyện miền núi như Đông Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My, Tây Giang đã hình thành tổ chưc hội và hoạt động khá hiệu quả.

Dù là tỉnh còn nghèo, nhưng Quảng Nam đang dấy lên một phong trào “người người làm KH, nhà nhà làm KH”.

37 tỷ đồng trong 10 năm

Để có được những con số này, nhiều năm qua, các cấp hội KH đã nỗ lực không biết mệt mỏi trong việc vận động, thu hút hội viên (mà cán bộ hội KH đa phần là cán bộ, thầy giáo đã nghỉ hưu). Ngoài ra, còn phải kể đến sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở. Chính sự quan tâm này đã tạo ra “cú hích” mạnh mẽ đến việc xây dựng và phát triển công tác KH, nhất là việc định hướng, chỉ đạo và phối hợp.

Hầu hết các trường học ở Quảng Nam đều có chi hội khuyến học và hàng năm đều trao học bổng, quà cho học sinh nghèo.

Hầu hết các trường học ở Quảng Nam đều có chi hội khuyến học và hàng năm đều trao học bổng, quà cho học sinh nghèo.

Nhưng phải nói rằng, trên hết đó là sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân. Ngoài ý thức về chuyện học tập của con cái, giờ đây người dân đất Quảng đã nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn đến công tác KH. Chính vì vậy mà không chỉ những người có điều kiện kinh tế mới góp tiền cho KH, nhiều người dân tuy còn nghèo nhưng vẫn hăng hái tham gia công tác KH.

Có lẽ cũng vì nghèo, lại tích cực với KH nên ở Quảng Nam mới xuất hiện những mô hình gây quỹ KH nhiều khả năng là “độc nhất vô nhị” trên cả nước. Đó là mô hình “mỗi nhà nuôi một con, trồng một cây” của người dân xã Tiên Cảnh (Tiên Phước); hay mô hình “sào ruộng KH, ngày công KH” của nông dân Tam An (Tam Kỳ). Ngoài ra còn có thể kể đến mô hình  “góp vốn lấy lãi để làm KH” của bà con người Quảng Nam đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài tổ chức hội theo kiểu “hành chính” nêu trên, rất nhiều loại hình KH đã được hình thành như hội KH của các cựu chiến binh, cựu học sinh, cựu giáo viên.

Bà Phạm Thị Minh Chiến, Chủ tịch Hội KH Quảng Nam cho biết, trong vòng 10 năm qua, chỉ kể Hội KH tỉnh và các hội KH huyện, thành phố thì toàn tỉnh đã cấp 15.036 suất học bổng và khen thưởng 229.081 suất với tổng số tiền lên tới hơn 37 tỷ đồng.

Ngoài ra, các cấp hội còn vận động tổ chức, cá nhân hảo tâm đầu tư, hỗ trợ gần 49 tỷ đồng xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị, sách vở, áo quần cấp phát cho học sinh nghèo.

Đối với tỉnh nghèo như Quảng Nam, đời sống của người dân còn khó khăn thì đây quả là một số tiền lớn và đầy ý nghĩa, động viên tích cực các em vượt qua khó khăn để học tập giỏi.

Không dừng lại ở việc KH cho học sinh, những năm gần đây, nhiều cấp hội KH đã dành một khoản kinh phí cho công tác khuyến dạy đối với giáo viên. Những giáo viên dạy giỏi, đạt thành tích xuất sắc trong công tác, những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn đều được khen thưởng, giúp đỡ. Rõ ràng sự quan tâm của hội KH là nguồn động viên rất lớn và tạo nên một không khí vui tươi, sôi nổi trong phong trào dạy giỏi của đội ngũ giáo viên.

Tường Vy (Theo Báo Dân trí)

Tháng Mười 4, 2008 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Việc học và thi của người Quảng xưa

Nhân dịp đầu năm học mới, hãy thử xem lại việc học và thi của người Quảng trước kia ra sao?

Nói về khoa cử, Quảng Nam cũng có thể tự hào là một trong những vùng đất có truyền thống hiếu học nổi tiếng, nơi có số lượng người thi đỗ nhiều nhất so với các tỉnh phía nam đèo Hải Vân.

Năm 1472 Quảng Nam Thừa tuyên đạo thành lập, thì đến năm 1488, Quảng Nam đã có nguời dự thi kỳ thi Hương. Từ đó, Quảng Nam đã có những người đỗ thi hương như Lê Cảnh, Phạm Hữu Kính, Trần Phúc Thành, Đặng Dung …Nhưng tiếc rằng không có tài liệu để thống kê đầy đủ.

Từ giữa thế kỷ thứ XIX, đến triều Nhà Nguyễn, Quảng Nam trở thành vùng đất học nổi tiếng, sản sinh ra nhiều nhà khoa bảng, nhiều tri thức cho đất nước. Trong khoảng 100 năm, từ 1817-1918 tại 32 khoa thi Hương ở trường Thừa Thiên Huế, Quảng Nam có tất cả 252 người đỗ, liên tiếp cả 32 khoa, chiếm 27,7% số người đỗ ở trường này, bằng 5,9% số người đỗ trong cả nước. Quảng Nam còn có 39 vị đỗ đại khoa gồm 14 tiến sĩ và 25 phó bảng, trong số 558 vị đại khoa của cả nước, xếp hàng thứ 6. Trong đó, có một Đình nguyên Hoàng giáp là Phạm Như Xương, 2 trường hợp song nguyên là Phạm Phú Thứ và Huỳnh Thúc Kháng vừa đỗ hương nguyên vừa đỗ hội nguyên.

Trong các kỳ thi, sĩ tử Quảng Nam đều đỗ đạt rất cao. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898) 5 người Quảng Nam cùng đỗ, được người đương thời dành tặng danh hiệu “Ngũ Phụng tề phi” cho 3 tiến sĩ Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn và 2 phó bảng Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến.

Khoa thi Canh Tý (1900), ở Quảng Nam đã có đến 14 người đăng khoa mà những người đỗ kế tiếp nhau từ thứ nhất đến thứ tư là Huỳnh Thúc Kháng (Hương nguyên), Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh.

Khoa thi Tân Sửu (1901) có bốn người cùng đỗ phó bảng là Nguyễn Đình Hiến, Võ Vĩ, Nguyễn Mậu Hoán, Phan Châu Trinh được tặng cho Danh hiệu “Quảng Nam tứ kiệt”.

Có tới 123 làng trong tỉnh có người đỗ từ cử nhân trở lên. Một số làng có nhiều người đăng khoa như làng Bảo An có đến 14 người, Mã Châu 10 người, Xuân Đài 9 người và các làng Phiếm Ái, Mỹ Xuyên, Chiên Đàn 6 người. Lại có trên 20 gia đình được liệt vào hàng thế khoa (nhiều người đỗ). Tiêu biểu có gia đình họ Hoàng làng Xuân Đài cha con, anh em, bác cháu, chú cháu đều thi đỗ (Hoàng Kim Giám, Hoàng Diệu, Hoàng Kim Huyễn, Hoàng Chấn, Hoàng Đống, Hoàng Dương). Gia đình họ Nguyễn làng Hà Lam cha con chú cháu cùng thi đỗ (Nguyễn Thuật, Nguyễn Chức, Nguyễn Tạo, Nguyễn Duật). Gia đình họ Phạm làng Mã Châu cha con, anh em cùng thi đỗ (Phạm Thanh Nhã, Phạm Thanh Thạc, Phạm Thanh Nghiêm, Phạm Cung Lượng). Hay trường hợp họ Nguyễn làng Chiên Đàn có cha Nguyễn Văn Dục đỗ phó bảng, con Nguyễn Văn Thích đỗ tiến sĩ. Gia đình họ Nguyễn Tường ở Cẩm Phô có anh Nguyễn Tường Vĩnh đỗ phó bảng, em Nguyễn Tường Phổ đỗ tiến sĩ, … Danh hiệu “Ngũ tử đăng khoa” tặng cho 5 anh em Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Thành ý, Nguyễn Tu Kỷ, Nguyễn Tĩnh Cung người làng Túy La, trú làng Bất Nhị, trong đó 3 người đỗ tú tài là Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Tu Kỷ, 2 người đỗ cử nhân là Nguyễn Thành Ý và Nguyễn Tĩnh Cung.

Tinh thần hiếu học không chỉ thể hiện ở những người trẻ tuổi như trường hợp Ông ích Khiêm thi đỗ cử nhân năm 15 tuổi được vua Tự Đức khen là “Thiếu niên đăng cao khoa” mà còn ở sự gương mẫu, chí kiên trì của những người sắp bước sang tuổi lão nhiêu như trường hợp Trà Quý Trưng đến năm 56 tuổi vẫn còn đi thi, đỗ cử nhân.

Ngoài ra, Quảng Nam cũng là vùng đất có những nhà giáo nổi tiếng, được giao trọng trách giáo dục cho những vị vua tương lai của triều đình Nguyễn như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Đình Tựu …

Hà Phan

Tháng Chín 10, 2008 Posted by | 4. Giáo dục | %(count) bình luận

Thủ khoa “chân đất”

Tin Trương Minh Hoàng đỗ thủ khoa đại học nhanh chóng lan khắp xã Tam Thành, huyện Phú Ninh, Quảng Nam, bởi từ trước đến nay có lẽ đây là trường hợp đầu tiên đỗ đạt cao như vậy.

Con đường dẫn vào nhà Hoàng ngoằn ngoèo và trơn trượt. Mấy hôm nay, câu “cửa miệng” của người dân xóm Cù Lao (thôn 7, xã Tam Thành) khi gặp nhau đều chung một lời khen: “Thằng “cu Hoàng bánh tráng” con nhà nghèo khổ rứa mà học giỏi kinh khủng”.

Chiếc xe đạp, 3 con bò và chồng bánh tráng

Hoàng bên góc học tẰ

Hoàng bên góc học tập

Đó có lẽ là 3 thứ đáng nhớ nhất trong 3 năm học THPT của Trương Minh Hoàng. Nhà nghèo, chỉ có thể sắm nổi chiếc xe đạp cũ, nhưng cũng đã là quá đủ. Hơn nữa, được đi học đã là niềm hạnh phúc của Hoàng bởi đôi lần trong bữa cơm hay lúc cả gia đình ngồi trò chuyện ba mẹ em cũng bàn đến chuyện cho con nghỉ học vì không có tiền. “Lúc đó, em chỉ xin ba mẹ cố gắng cho con đi học để sau này có điều kiện thoát nghèo khổ”, Hoàng nhớ lại. Từ nhà đến Trường THPT Trần Văn Dư dài 12km, Hoàng đi xe đạp nhanh cũng phải mất 45 phút. Vậy mà, suốt 3 năm học, dường như chưa một lần em ở lại trưa dù nhiều khi buổi chiều học tiếp. Mẹ Hoàng – chị Nguyễn Thị Tám cho biết: “Nhiều lúc tôi cho tiền và khuyên con ở lại kiếm cơm hay cái chi đó ăn đỡ chứ đạp xe về nhà cực quá thì nó bảo, thôi mẹ ơi, để tiền nớ mẹ mua cá cả nhà ăn chớ ở nhà ba mẹ và em ăn mắm hoài”. “Tội nghiệp, xe đạp thì hư miết, nhiều bữa về đến nhà đã qua trưa mà mồ hôi ướt đầm. Thì ra Hoàng cố gắng dắt xe đi bộ để về nhà vá cho đỡ tốn tiền vì nó sắm sẵn đồ nghề sửa xe đạp ở nhà”, chị Tám cho biết thêm.

Theo lời kể của chị Tám, Hoàng đã suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ do chế độ ăn uống thiếu thốn, lúc sinh ra em chỉ cân nặng 1,9 kg. Lớn lên, Hoàng lại bị chứng cao huyết áp hành hạ những khi học hành quá căng thẳng. Dáng người nhỏ bé, chỉ có đôi mắt là ánh lên tia sáng của trí thông minh, Hoàng nhỏ nhẹ: “Em được như ngày hôm nay là nhờ ba mẹ chăm lo, các thầy cô của trường Trần Văn Dư động viên rất nhiều trong học tập”. (Minh Tông)

Không đi học thêm, cũng chẳng có tiền mua sách, Hoàng chỉ có thể mượn sách thư viện hay của bạn bè, thầy cô về để nghiên cứu bổ sung kiến thức cho mình. Ngoài giờ học, Hoàng còn phụ giúp gia đình chăn bò. “Những lúc đi chăn bò em đều tranh thủ đem theo sách vở để học”, Hoàng bẽn lẽn kể. Không chỉ vậy, Hoàng còn phải phụ giúp mẹ công việc đồng áng, chở bánh tráng đi bỏ các quán. Với điều kiện học tập không được thuận lợi như vậy nhưng sức học của Hoàng khiến cho nhiều người phải nể phục. 3 năm học THPT, Hoàng đều là học sinh giỏi nhất trường. Hoàng cũng là người “sưu tập” được khá nhiều giải thưởng, trong đó đáng nhớ nhất là giải ba học sinh giỏi môn hóa lớp 10 cấp tỉnh, giải nhất học sinh giỏi môn hóa lớp 12 cấp tỉnh và giải khuyến khích môn hóa cấp quốc gia. Thi vào Đại học Bách khoa Đà Nẵng ngành dầu khí, Hoàng đỗ thủ khoa với 29,5 điểm (lý 10, toán 9,75 và hóa 9,75 điểm).

Cửa trường hẹp

Hoàng vừa chăn bò vừa học

Hoàng vừa chăn bò vừa học

Khi nghe tin con đậu đại học, chị Tám chưa kịp mừng đã vội lo: “Vừa mượn 500.000 đồng cho con đi thi chưa kịp trả, nay con đậu thì tiền đâu để đi học đây? Trước đây nhiều lần định cho con nghỉ học rồi sau đó lại bàn, thôi ráng rồi tính tiếp, còn lần này …”, chị Tám bỏ lửng câu nói trong khi nước mắt lăn dài.

Chồng chị – anh Trương Văn Thành mới 45 tuổi nhưng sức khỏe khá yếu do căn bệnh thận hành hạ, nhất là sau khi mổ cách đây vài năm. Hơn nửa năm nay, anh ra Đà Nẵng phụ hồ để phụ giúp thêm cho vợ nuôi con. “Người ta làm một ngày tiền công là 70.000 đồng còn chồng tôi chỉ có 40.000 đồng vì ảnh đâu có làm bằng người ta”, chị Tám nói. Ở nhà, chị trở thành “đàn ông” vừa phải cáng đáng hơn 4 sào ruộng, 2 sào đất gò, vừa thêm nghề làm bánh tráng. Cha mẹ hai bên đều nghèo khó nên sau khi ra riêng vào năm 1989, vợ chồng làm tạm căn nhà bằng tranh tre trên đất của một người hàng xóm. Năm 1992, người bác thương hại cho miếng đất để làm nhà. Tất cả vốn liếng dành dụm, mượn thêm bà con anh em xây được ngôi nhà nhỏ nhưng đến nay vẫn chưa tô được tường còn cửa ngõ trống trơn. “Ba triệu đồng vay ngân hàng mua bò thì mới trả xong, còn 1 chỉ vàng mượn làm nhà đến nay vẫn chưa trả nổi”.

Trong những ngày qua, nhiều người biết chuyện Hoàng đỗ thủ khoa đã đến chúc mừng. Chị Tám chỉ biết cười mà trong lòng quặn thắt. “Người ta có con đậu đại học thì mừng còn tôi thì lo quá. Nếu biết trước thì tôi khoan trả tiền vay ngân hàng chớ như ri chừ chẳng biết kiếm tiền ở đâu để cho con đi học đây? Có lẽ con Sa (Trương Thị Kim Sa – em gái Hoàng) vừa đậu lớp 10 sẽ phải nghỉ học để thằng Hoàng đi học thôi”, chị Hoàng nói mà nước mắt lăn dài.

TRƯƠNG XUÂN PHÚ (Theo Báo Quảng Nam)

Tháng Tám 6, 2008 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“Với em, không nơi đâu bằng quê hương Đà Nẵng”

(Cadn.com.vn) – Sân bay quốc tế Đà Nẵng trưa 29-7 lại ngập tràn cờ hoa và màu áo xanh của HS Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.

Niềm vui hiện rõ trên gương mặt của các vị lãnh đạo ngành GD-ĐT TP, của các thầy cô, bạn bè, đặc biệt là cha mẹ, người thân khi chào đón Huỳnh Minh Toàn – HS lớp 12A3 Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn – cậu HS “vàng” vừa lập nên kỳ tích đúp khi đem về cho Tổ quốc, cho TP Đà Nẵng chiếc HCV Olympic Vật lý quốc tế (IPhO) lần thứ 39 được tổ chức tại Việt Nam. Trong tâm trạng xúc động sau một chuyến đi xa Đà Nẵng hơn 2 tháng để ôn tập và dự thi, Huỳnh Minh Toàn tâm sự:

P.V: So với lần tham gia dự thi Olympic Vật lý Châu Á được tổ chức tại Mông Cổ hồi tháng 4-2008, tâm trạng và cảm giác của em khi dự thi IPhO lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam có gì khác?

Huỳnh Minh Toàn (H.M.T): Xét về khía cạnh sức khỏe thì do kỳ thi IPhO 2008 lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, nên so với chuyến đi sang Mông Cổ tham dự kỳ thi Olympic Vật lý Châu Á hồi tháng 4, em đỡ bị mất sức hơn. Tuy nhiên, về tâm lý, em cảm thấy căng thẳng và bị áp lực hơn. Áp lực vì đây là một giải quốc tế lớn, và vì mình là nước chủ nhà nên phải cố gắng làm sao đạt thành tích cao hơn để không phụ lòng mọi người.

Huỳnh Minh Toàn vinh quang trong vòng tay chào đón

Huỳnh Minh Toàn vinh quang trong vòng tay chào đón của thầy cô, bạn bè và gia đình.

P.V: Kết quả cuộc thi có làm em hài lòng? So với kỳ thi Olympic Châu Á, em đánh giá đề thi IPhO lần này như thế nào?

H.M.T: Cả hai cuộc thi đều mang tầm quốc tế. Tuy nhiên, theo em, so với đề thi Olympic Vật lý Châu Á hồi tháng 4, thì đề thi IPhO lần này khó hơn. Đặc biệt là phần lý thuyết dài, khó và có phần hay hơn.

P.V: Giữa lý thuyết và thực hành, em làm tốt phần nào hơn? Thế mạnh của em nghiêng về phần nào?

H.M.T: Khi được bồi dưỡng trong đội tuyển, chúng em được bồi dưỡng đều cả 2 phần lý thuyết và thực hành. Tuy nhiên, khi làm bài, em làm tốt phần thực hành hơn.

P.V: Sau khi thi xong, em có đoán được mình sẽ được bao nhiêu điểm không? Em có bất ngờ khi nghe xướng danh tên mình trong danh sách bảng vàng, lại đứng thứ nhất toàn đoàn Việt Nam và thứ 11 quốc tế?

H.M.T: Khi làm xong, em cũng ước chừng mình được khoảng 37 đến 38 điểm, nên không quá bất ngờ về điểm số đạt được (37,5 điểm). Tuy nhiên, vì không biết các bạn ở các nước làm bài như thế nào, nên em cũng khá bất ngờ và xúc động khi biết mình đứng vị thứ 11 trong danh sách bảng vàng và đứng đầu đội tuyển Việt Nam.

P.V: Trên con đường dẫn đến sự thành công ngày hôm nay, em nghĩ và nhớ đến ai nhiều nhất? Lúc nghe công bố điểm, điều đầu tiên em nghĩ đến là gì?

H.M.T (xúc động): Con đường thành công bước đầu mà em có được hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân là công lao của mẹ cha, sự dìu dắt của các thầy cô, đặc biệt là các thầy cô Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn – nơi em theo học 3 năm cấp THPT, và thầy Ngô Ngọc Thủy – người thầy kính yêu đã hướng dẫn cho em môn Vật lý suốt 3 năm qua. Khi nghe xướng danh tên mình trong danh sách bảng vàng, em run lắm, nhớ gia đình, thầy cô và bè bạn. Điều đầu tiên em nghĩ đến nhiều nhất là ngôi nhà cũ hồi gia đình em còn sống ở quê (Túy Loan – Hòa Vang). Nơi đó chất chứa bao kỷ niệm thân thương về một thời khó nhọc của gia đình… Em muốn bay về Đà Nẵng thật nhanh, muốn về quê để… “báo cáo” những thành tích mà mình đạt được.

P.V: Điều gì khiến em đam mê môn Vật lý? Sau cuộc thi này, em có dự định gì cho tương lai?

H.M.T: Lúc nhỏ, em rất yêu thích loài vật, cây cỏ nên em rất yêu thích môn Sinh học. Khi lớn hơn một tí, em lại thích tìm tòi, khám phá và lý giải các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, thiên nhiên. Đấy là lý do khiến em thích môn Vật lý. Năm lớp 8, khi đang còn theo học tại Trường THCS Nguyễn Khuyến, em được chọn vào đội tuyển Vật lý của trường. Mãi đến lớp 9, trường em mới có đội tuyển Sinh. Chính vì “lỡ” theo đội tuyển Vật lý nên em theo luôn (cười). Thực tế, em yêu 2 môn học này ngang nhau. Còn tương lai gần, với kết quả đạt được, em nghe nói mình được tuyển thẳng vào ngành Cơ Điện tử, Trường ĐH Bách khoa Đà Nẵng.

P.V: Nghe nói Toàn có một ước mơ và hoài bão rất đẹp? Nếu được học bổng của thành phố đi du học, khi học xong em muốn ở lại nước ngoài hay trở về nước?

H.M.T: Ai cũng có ước mơ và hoài bão. Song, nếu em nói ra hoài bão của mình, không biết nó có bị cho là xa vời lắm không? Và liệu em có thực hiện được không? Hoài bão của em là muốn nghiên cứu, tìm ra được một lý thuyết thống nhất giữa 2 lý thuyết lớn của Vật lý là: Cơ học điện tử và thuyết tương đối. Nếu được đi du học, em sẽ dành thời gian để ôn luyện ngoại ngữ.

Qua những cuộc thi quốc tế vừa qua, được tiếp xúc với các bạn nước ngoài, em nghĩ rằng, mình cần phải trau dồi hơn nữa vốn kiến thức ngoại ngữ còn hạn chế của mình cũng như khả năng giao tiếp, khả năng ứng xử… Với em, dù đi đâu cũng không bằng phục vụ ngay trên chính quê hương Đà Nẵng thân yêu của mình. Vì vậy, nếu được đi du học, học xong em sẽ trở về Đà Nẵng để góp một phần bé nhỏ vào phục vụ quê hương.

Cũng qua Báo Công an TP Đà Nẵng, xin cho em được gửi lời tri ân đến các thầy cô, lãnh đạo ngành GD-ĐT, lãnh đạo TP Đà Nẵng đã quan tâm, tạo mọi điều kiện cho em trên con đường học vấn cũng như sự thành công bé nhỏ này. Xin cho em được cảm ơn tất cả mọi người đã động viên, cổ vũ em trong suốt thời gian qua…

P.Thủy thực hiện (Theo Công an thành phố Đà Nẵng)

Tháng Bảy 31, 2008 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bảo hiểm y tế người nghèo âm trên 49 tỷ đồng

Bảo hiểm y tế cho người nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta nhằm tạo thuận lợi cho những người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí, theo quyết định 139/2002/QĐ-TTg, của Chính phủ. Những năm qua, công tác này được tỉnh Quảng Nam triển khai thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên trong 5 năm triển khai, Bảo hiểm y tế cho người nghèo của tỉnh đã âm đến 49 tỷ đồng.

Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Quảng Nam, từ năm 2003 đến năm 2008, tỉnh Quảng Nam có trên 1.330.000 lượt người nghèo được cấp thẻ Bảo hiểm y tế với tổng kinh phí là 98 tỷ đồng. Qua 5 năm thực hiện công tác này, toàn tỉnh đã có 1.723.000 lượt người nghèo đến khám chữa bệnh với tổng chi phí gần 107 tỷ đồng. Ngoài ra, có trên 37.000 lượt người nghèo khám chữa bệnh tuyến ngoài tỉnh với chi phí gần 23 tỷ đồng. Cân đối nguồn kinh phí sử dụng riêng cho bệnh nhân nghèo cộng với sự chênh lệnh mức phí, trong 5 năm, quỹ khám chữa bệnh người nghèo tỉnh Quảng Nam đã âm trên 49 tỷ đồng.

Nguyên nhân do đâu?

Ông Phạm Văn Lai, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Nam cho biết: “Một trong những nguyên nhân là do mức phí của người nghèo còn quá thấp: năm 2003 chỉ đóng 50.000 đồng người/năm, đến năm 2007 là 80.000 đồng và đến năm 2008 là 130.000 đồng/năm. Trong khi đó, bình quân chung của cả nước về số lượng bắt buộc cũng như tự nguyện thì khá cao”.

Bác sỹ Đỗ Văn Ba, Trưởng phòng kế hoạch Sở Y Tế Quảng Nam nói: “Việc tuyên truyền cho người dân hiểu biết về chính sách này vừa qua kiểm điểm cũng thấy có những hạn chế, người dân chưa hiểu được trách nhiệm của người được hưởng bảo hiểm này. Do vậy, có một số ít người cũng lạm dụng ranh giới giữa người bệnh với người nghèo. Đồng thời, các cơ sở khám chữa bệnh một số ít cũng lạm dụng vấn đề kỹ thuật như cận lâm sàng mới có nguồn thu… Từ đó kết hợp với nhiều vấn đề khác nên mới âm quỹ theo như báo cáo của Bảo hiểm xã hội tỉnh”.

Xác định quyết định 139 của Chính phủ về công tác khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nên 5 năm qua, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và chính quyền tỉnh Quảng Nam tìm mọi giải pháp để triển khai thực hiện tốt công tác này. Qua đó, tạo cho người nghèo yên tâm khám chữa bệnh và được hưởng quyền lợi như người có thẻ bảo hiểm y tế bắt buộc.

Ông Phạm Văn Lai, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Nam cho biết thêm: “Mặc dù âm như vậy nhưng đây là chủ trương chính sách lớn nên bảo hiểm Xã hội Việt Nam đã điều phối và trang trải quỹ này. Vấn đề quan trọng là chính sách 139 và khám chữa bệnh cho người nghèo được thực hiện đầy đủ và đúng, để góp phần vào chính sách an sinh xã hội”.

Thực tế trên cho thấy, cùng với sự cân đối của ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cũng cần tính lại vấn đề mức phí bảo hiểm y tế người nghèo, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiêm đội ngũ cán bộ y tế trong việc thực hiện khám chữa bệnh. Có như vậy, việc khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cho người nghèo đạt kết quả tích cực hơn, hạn chế tình trạng âm quỹ quá lớn; góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội đối với người dân nói chung.

Công Dũng (Theo VTV)

Tháng Bảy 15, 2008 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

100 năm thành lập Trường Tiểu học An Phước

Ngày 14-6-2008, Trường Tiểu học An Phước, xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 100 năm thành lập.

Đây là một trong những trường tân học đầu tiên của tỉnh Quảng Nam, nay thuộc thành phố Ðà Nẵng, là một trong 40 trường mang tính nghĩa thục của Phong trào Duy Tân, một phong trào yêu nước nổi tiếng của nước ta ở đầu thế kỷ XX do các chí sĩ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp khởi xướng với mục tiêu và khẩu hiệu: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh và là một trong gần mười trường nghĩa thục nổi tiếng của cả nước.

Lúc đầu, trường là lớp học của làng Cẩm Toại do cụ Lâm Hữu Mẫn, một nhà Nho yêu nước lập ra năm 1888 để dạy chữ Nho không lấy tiền cho con em trong làng. Đến năm 1904, con trai cụ Lâm Hữu Mẫn là Lâm Quang Tự thay cha quản lý lớp học. Năm 1908, hưởng ứng phong trào Duy Tân, Trường Cẩm Toại chuyển việc dạy chữ Nho sang dạy chữ Quốc ngữ và dạy theo tân học. Trường dạy các môn sử ký, toán học, địa lý, cách trí, vệ sinh và cả võ nghệ cho học sinh. Học sinh đi học miễn phí và là ngôi trường đầu tiên nhận học sinh nữ. Trường thường phát phần thưởng cho các học sinh giỏi hay những người có công đưa người khác vào học, cấp sách vở cho học sinh nghèo…

Khi phong trào kháng sưu chống thuế nổ ra ở Trung kỳ, thực dân Pháp và tay sai ra sức đàn áp Phong trào Duy Tân, lùng bắt các sĩ phu tham gia phong trào, tiêu diệt các cơ sở có liên quan, nhiều trường tân học bị phá hủy hoặc phải tự đóng cửa. Trường Cẩm Toại may mắn vượt qua đợt khủng bố của thực dân nhờ tài ứng xử khôn khéo của ông Ấm Sáu, con trai cụ Đỗ Thúc Tịnh.

Ra đời và phát triển trong hoàn cảnh ngặt nghèo, trường lần lượt được công nhận là trường công lập vào năm 1926 rồi đổi thành sơ học, hoàn chỉnh bậc tiểu học với tên gọi École Cantonale d’An Phước.

Năm 1945, trong cuộc Tổng khởi nghĩa ngày 16-8, thầy và trò Trường Tiểu học An Phước cùng gần 5 ngàn người, đã tập trung tại sân trường, xuống đường giành chính quyền, cùng hòa mình vào làn sóng Cách mạng mùa Thu.

Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, trường bỏ tên tiếng Pháp đổi thành Trường Tiểu học An Phước. Từ năm 1947-1954 vì chiến tranh khốc liệt, trường không hoạt động ở địa điểm cũ, tuy nhiên các lớp vẫ tổ chức phân tán trong các làng bị tạm chiếm như Bồ Bàn, Cẩm Toại, Đường Lâm…

Sau năm 1954, một số thầy trò Trường An Phước tập kết ra Bắc, còn phần lớn ở lại tham gia phong trào chống đàn áp. Năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, đây là thời kỳ đen tối nhất, hy sinh gian khổ nhất nhưng cũng là thời kỳ đấu tranh oanh liệt nhất, vẻ vang nhất của nhân dân Hòa Vang trong đó có cựu học sinh Trường Tiểu học An Phước.

Kết thúc hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, hơn 400 liệt sĩ là cựu học sinh Trường An Phước đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Không chỉ anh dũng trong đấu tranh, trường còn là điểm tựa để nâng bước cho hơn 100 cán bộ cao, trung cấp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, trong đó có hơn 20 giáo sư, tiến sĩ khoa học nổi tiếng.

100 năm qua với bao biến cố thăng trầm của lịch sử, sau khi Trường Ðông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội bị thực dân Pháp đóng cửa, và tiếp đó tất cả các trường nghĩa thục khác của phong trào Duy Tân, vì nhiều lý do, đã không còn tồn tại. Chỉ riêng Trường Nghĩa thục An Phước là còn cho đến ngày nay và tiếp tục phát triển. Từ một trường dân lập tranh tre nhỏ bé với 20 học sinh ở thôn Cẩm Toại, từ đốm lửa nhỏ được nhen nhóm trên dải đất miền Trung, ngọn lửa An Phước bùng lên, tiếp tục tỏa sáng suốt 100 năm qua. Có thể nói, đây là ngôi trường nhỏ nhưng có ý nghĩa lịch sử lớn, là nôi dạy chữ Quốc ngữ vào loại sớm nhất Quảng Nam, đặt nền móng cho việc khai dân trí ở quê nhà. Ðó là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử ngành giáo dục Việt Nam nói chung, của Quảng Nam Đà Nẵng nói riêng và là niềm tự hào của vùng đất Quảng Nam.

Đại tướng Võ nguyên Giáp cũng từng khẳng định: Trường An Phước là một nghĩa thục nổi tiếng suốt gần 100 năm nay, đã từng có những hy sinh và cống hiến lớn đối với sự nghiệp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, giải phóng và xây dựng Tổ quốc”.

Tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập trường, ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cũng khẳng định: “Nghĩa thục An Phước” không chỉ để cho thế hệ học sinh hôm nay chiêm ngưỡng và tự hào về nguồn gốc của ngôi trường xưa, mà quan trọng hơn, để khẳng định rằng: Bước vào thế kỷ XXI này, ngọn lửa Duy Tân- Đổi mới vẫn là nguồn lực để chiến thắng. Xưa chiến thắng cái nhục mất nước, nay chiến thắng cái nhục nghèo hèn. Vì thế, tình thần “Nghĩa thục” vẫn rất cần trong sự nghiệp giáo dục hiện nay”.

Kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập, Nhà nước đã cho dựng tại trường An Phước tấm bia ghi dòng chữ “100 năm nghĩa thục cấp Nhà nước”.

Tháng Bảy 11, 2008 Posted by | 4. Giáo dục | Bạn nghĩ gì về bài viết này?