XỨ QUẢNG

Tú Quỳ – Danh sĩ Quảng Nam

Tiểu sử và gia thế

Cụ Tú Quỳ, tên thật là Huỳnh Quỳ (1828-1926), hiệu Hướng Dương (hoa Quỳ) người làng Giảng Hòa, nay thuộc xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

Vào đời Hồng Đức (1471), cụ Hiển Nhứt Thế Tổ Huỳnh Đại, tức Huỳnh văn Nê, sinh quán tại Thừa Tuyên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An theo vua Lê Thánh Tông Nam chinh. Sau đó, ông chọn mảnh đất Giảng Hòa, ven sông Thu Bồn, làm nơi định cư, xây làng lập xã. Hồi ấy, nơi đây là một gò nổi đầy lau lách, gai góc um tùm, hoang vu. Cụ Tú Quỳ thuộc thế hệ thứ 10, 11 … của Thế Tổ họ Huỳnh (làng) Giảng Hòa.

Thuở nhỏ, cụ Tú Quỳ thọ giáo cụ Tú Sáu, tức cụ Tú Trần Thế Thận ở Phi Phú, Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Gia phong, tư cách, đạo đức cụ Tú Thận được cư dân địa phương kính trọng. Con cháu cụ Tú Sáu, có nhiều người là thầy thuốc Đông y nổi tiếng như ông Học Lan (Trần Thế Giảng) ở Bến Đồn, Trần Ích Ký, Trần Vọng (ở Đà Nẵng), Trần Quang (ở Quảng Ngãi). Ông Trần Vọng, nhà ở Thái Phiên, quận Hải Châu, Đà Nẵng, nay đã qua đời, nổi tiếng với loại thuốc đông y trong uống, ngoài xoa dành cho sản phụ ở cử, không phải nằm lửa theo như cách xưa, được bà con Quảng Ngãi, Quảng Nam tín nhiệm. Khi cụ Tú Sáu qua đời, tiến sĩ Phạm Liệu, một trong Ngũ phụng tề phi của đất Quảng, cùng các môn sinh xin gia đình cụ khắc vào bia câu đối bằng chữ Nôm có nội dung:

” Bốn phía xây vuông nền Đạo Nghĩa
Nghìn năm ghi tạc dấu Sư Nho”

Thế hệ con cháu cụ Tú Quỳ có nhiều người thành danh. Người con gái thứ ba, cụ Huỳnh thị Khóa, là chánh thất ông Nguyễn Thiệu, một địa chủ giàu có vào hạng nhất, nhì làng Trung Phước thời ấy. Ông Nguyễn Thiệu, còn gọi là ông Thủ Tô, rễ ông Tú Quỳ, có nhiều thế hệ con cháu được học hành thành danh. Ngày nay, tại Trung Phước, tên ông Tô nay trở thành nhiều địa danh như cầu ông Tô, giếng ông Tô, gò ông Tô…

Làng Trung Phước, nay thuộc xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam, là một ngôi làng ven sông Thu Bồn, ở phía thượng lưu so với làng Giảng Hòa. Thời Pháp thuộc, làng này là vùng tản cư của nhiều dòng họ trâm anh thế phiệt từ Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc. Trong đó, có một số dòng họ nổi tiếng nhất Trung Phước là dòng họ Bùi (làng) Vĩnh Trinh (có thi sĩ Bùi Giáng) từ Duy Xuyên, họ Huỳnh (làng) Giảng Hòa (của cụ Tú Quỳ) từ Đại Lộc, họ Phan (làng) Bảo An từ Gò Nổi, Điện Quang, Điện Bàn, họ Nguyễn (làng) Quảng Huế, từ Đại An, Đại Lộc… lên.

Phia bên kia sông Thu Bồn, cùng với làng Trung Phước là làng Đại Bình nổi tiếng đất Quảng Nam, với những giống trái cây ngọt, quý như loòng boòng, sầu riêng, măng cụt… Tại đây, qua chiến tranh, làng gần như còn nguyên vẹn nét đẹp làng quê Trung Bộ Việt Nam với con đường làng quanh co, bóng tre rợp mát, vườn cây trĩu trái …. Mấy năm trước, đường làng vẫn chưa có dấu bánh xe máy đi lại. Từ lâu, tỉnh Quảng Nam kỳ vọng xây dựng làng này trở thành Làng du lịch sinh thái, nhưng dự án nay vẫn chưa thành.

Sự nghiệp học hành, thi cử của cụ Tú Quỳ nhiều lận đận. Sau hai lần lều chõng, lần đầu vừa tròn 19 tuổi, hai lần đều đỗ tú tài, cụ Tú Quỳ trở lại quê hương dạy trẻ, sống cuộc đời thanh bạch. Trong thời kỳ này, cụ Tú Quỳ dùng tài văn chương giúp đỡ cư dân trong những dịp quan hôn tang tế. Đặc biệt, ông thường làm thơ đả kích thẳng thừng những thói hư tật xấu của xã hội, của con người không một chút khoan nhượng, e dè, nhằm “diệt bất công, gian ác, khuyến thiện hưng đạo đức” một cách chính trực ngoan cường. Ngôn từ và hành động của ông phản ảnh một nhân sinh quan cá biệt, không giống bất cứ danh nho danh sĩ nào đồng thời với ông. Đấy cũng là nguyên nhân tạo cho Quảng Nam có được một Tú Quỳ với bản chất đặc thù, “Bản chất Tú Quỳ Quảng Nam”.

Đến tuổi cửu tuần, vua Khải Định ban cho ông hàm “Hàn Lâm Đãi Chiếu”. Một ngày tháng 5 Bính Dần, sau khi dùng cơm tối, ung dung uống bát nước chè đậm, ông vào giường ngủ và qua đời vào những ngày đầu ngày mồng 6 tháng 3 năm Bính Dần (17/5/1926), niên hiệu Bảo Đại I, hưởng thọ 98 tuổi.

Tú Quỳ âm thầm qua đời nơi quê hương Giảng Hòa. Quảng Nam mất đi một nhân tài văn học, nhưng sự nghiệp văn thơ và bản chất “tiết trực tâm hư” của ông vẫn mãi mãi trong lòng người dân Quảng. Sau khi ông qua đời, ngay cả những đối tượng thù hận ông, vì những bài thơ “gang thép” mà ông đã mạnh mẽ đả kích họ trước đấy, cũng bùi ngùi thương tiếc, kính trọng mà khóc ông bằng bốn chữ: “Túc Xưng Quân Tử”. Phạm Quỳnh đã trang trọng đưa bốn chữ đó lên báo Nam Phong điếu ông. Phạm Liệu, người đứng đầu bảng “Đệ nhị Giáp Đồng Tiến Sĩ xuất thân” khoa thi Mậu Tuất 1898, một trong năm con phụng của Ngũ Phụng Tề Phi Quảng Nam, chí tình khóc ông bằng câu đối:

“Gia học kế thừa, Ngã ngoại tổ môn trung túc xưng cao đệ
Quốc văn đề xướng, Đại súy đường hội diện hiệp bái tiên huy

Và tôn vinh Tú Quỳ là “Đại súy đường”, một đại tướng trong làng Quốc văn.

Từ năm 1958-1968, nhà giáo, thi nhân tiền chiến Phạm Đình Bách, bào đề cụ Phạm Đình Ái, sưu tầm thơ ca Tú Quỳ và đặt tên cho tác phẩm là: “Tú Quỳ, La Sơn Phu Tử Quảng Nam”, đánh giá Tú Quỳ đối với phong trào Nghĩa hội Quảng Nam như một Nguyễn Thiếp Nghệ An đối với Quang Trung Hoàng đế ngày trước.

Cụ Tú Quỳ sinh ra trong giai đoạn đất nước tao loạn, sinh thời thường làm thơ đả kích cái xấu trong xã hội, trong đó có rất nhiều bài vịnh mỉa mai, châm biếm các thủ lĩnh dưới trướng Nguyễn Duy Hiệu, thủ lĩnh Nghĩa Hội Quảng Nam, nhũng nhiễu dân lành, giết chóc bừa bãi làm méo mó hình ảnh cuộc kháng chiến chống Tây ở Quảng Nam. Trước nay, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về các sáng tác của cụ, có cả nghi án cụ là người chống lại phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam do Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo. Vì vậy, trong một thời gian dài, di sản thơ văn của Tú Quỳ vẫn chỉ dừng lại ở các nghiên cứu, không được nhiều người biết đến.

Tiếc thay!

Tháng Mười Một 15, 2010 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lễ diễu binh, diễu hành ngày 10/10/2010

Tháng Mười 12, 2010 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Gìn giữ khí thiêng Ngũ Hành Sơn

Năm Tân Sửu (1301), sau khi nhường ngôi cho con, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi kinh lý các miền trong nước và sang thăm Champa, đồng thời hứa gả công chúa cho vua Champa để kết thân. Kết quả vào tháng 2 năm Ất Tỵ (1305), vua Champa sai Chế Bồ Đài và hơn 100 tùy tùng sang Đại Việt dâng sính lễ quý để cầu hôn.

Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), công chúa Huyền Trân nhà Trần được gả cho vua Champa là Chế Mân (Jaya Simhavarman III), với sính lễ là hai châu Ô, Lý (gồm phần đất từ Quảng Trị đến bắc sông Thu Bồn thuộc Quảng Nam ngày nay). Chủ trương hòa hiếu của vua Trần Nhân Tông đã dẫn đến sự hòa hợp giữa hai dân tộc Chăm-Việt, mở ra sự gắn kết của khu vực Ngũ Hành Sơn với không gian vùng Thuận – Quảng.

Năm 1307, nhà Trần đổi hai châu Ô, Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu. Ngũ Hành Sơn thuộc về phía nam Hóa Châu, nằm giữa đoạn đường từ đèo Hải Vân đến bắc sông Thu Bồn. Ngoài tên dân gian là Non Nước, cụm núi còn có nhiều tên khác như Ngũ Uẩn Sơn, Ngũ Chỉ Sơn, Núi Tam Thai. Dưới thời Nguyễn, vua Minh Mạng đặt tên là Ngũ Hành Sơn và trở nên thông dụng cho đến nay. Người Pháp gọi Ngũ Hành Sơn là Núi Cẩm Thạch.

Ngũ Hành Sơn năm 1910 (ảnh tư liệu)

Theo truyền thuyết người Chăm, Ngũ Hành Sơn là do các vỏ trứng của Rùa Vàng nứt ra, trở thành 5 trái núi. Triều Nguyễn gọi là Ngũ Hành Sơn, do năm quả núi tương ứng theo ngũ hành, nên đặt tên Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn (Riêng Hỏa Sơn có 2 ngọn núi là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn).

Do núi đá bị nước mưa và khí hậu tác động, nên thiên nhiên đã tạo ra những hang động và hình thù kỳ thú, làm cho núi có những sắc thái đặc thù mang vẻ linh thiêng. Đá cẩm thạch tại Ngũ Hành Sơn độc đáo ở chỗ có màu ngũ sắc, phân chia theo từng núi: đá ở Thủy Sơn màu hồng, ở Mộc Sơn màu trắng, ở Hỏa Sơn màu đỏ, ở Kim Sơn màu thủy mặc và ở Thổ Sơn màu nâu. Quanh Ngũ Hành Sơn, về phía đông có biển Đông với bãi cát mịn trắng chạy dọc ven biển; ở phía tây và nam là sông Cổ Cò chảy qua hòa vào nhánh sông Cẩm Lệ. Thế kỷ XVII-XVIII, nhánh sông này là đường thủy thông thương huyết mạch giữa Đà Nẵng với Hội An, về sau bị bồi lấp.

Dấu tích của con người ở Ngũ Hành Sơn có từ rất sớm, thể hiện qua các di chỉ thuộc văn hóa Sa Huỳnh. Đây cũng là nơi người Chăm thờ cúng thần linh của mình trong nhiều thế kỷ. Trên dãy Hỏa Sơn, vẫn còn lại những đống gạch đá sụp lở là di tích đền tháp của người Chăm. Thổ Sơn được xem là linh địa của người Chăm, với những mảng phù điêu trên đá còn lưu lại.

Sự chuyển giao hòa bình giữa hai vương triều là nền tảng bảo đảm cho các công trình văn hóa Champa trên Ngũ Hành Sơn được người Việt tiếp thu và tiếp tục duy trì. Tương truyền vào thời Lê sơ, vua Lê Thánh Tông (trị vì từ 1460 đến 1497) đã khám phá Ngũ Hành Sơn. Việc thờ cúng thần linh của người Chăm được tiếp nối bằng việc tu học và thờ cúng của Phật giáo qua những ngôi chùa do người Việt lập nên, tiêu biểu là các ngôi chùa Thái Bình và Vân Long.

Thời các chúa Nguyễn, Phật giáo rất thịnh hành ở Xứ Đàng Trong. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) đã từng đóng góp lập các chùa Long Hưng, Bửu Châu ở Quảng Nam. Chùa Tam Thai tại ngọn Thủy Sơn xây dựng năm 1630, còn tấm biển bằng đồng ghi bút tích của Vua Minh Mạng, là một trong những ngôi chùa xưa ở Đà Nẵng.
 
Bia Phổ Đà sơn linh trung Phật tại động Hoa Nghiêm (1640) và bia Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật tịch diệt lạc tại động Vân Thông (1641) là các bia đá do Thiền sư Huệ Đạo Minh dựng lập, để tán thán công đức của tín đồ Phật tử người Việt, người Nhật và người Hoa đã cúng dường xây dựng chùa. Chùa Bình An xây dựng trước đó cũng được trùng tu vào năm 1640. Thời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Hòa thượng Thạch Liêm (Thích Đại Sán) từ Trung Hoa sang Thuận-Quảng hộ trì Phật giáo Thích Đại Sán từng đến Ngũ Hành Sơn. 

 Với lòng mộ đạo, có lúc cả ngàn tín đồ Phật tử đến chùa Thái Bình ở Ngũ Hành Sơn nghe Nam Đại Hòa thượng giảng kinh. Hòa thượng Hưng Liên trụ trì chùa Tam Thai, truyền bá Thiền Tào Động, được chúa Nguyễn Phúc Chu tôn phong Quốc sư.

Thời nhà Nguyễn, Ngũ Hành Sơn rất được các vua triều Nguyễn quan tâm và ngưỡng mộ. Tương truyền, chúa Nguyễn có lần thất trận trước quân Tây Sơn ở Quảng Nam, đã vào ẩn trốn ở Ngũ Hành Sơn và nhờ một vị tiên xuất hiện chỉ đường nên thoát nạn, quân sĩ khỏi bị đói; vì thế sau khi lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long mới bày tỏ sự tri ân. Công chúa Ngọc Lan con vua Gia Long cũng đã vào hang động ở Ngũ Hành Sơn ẩn tu tại Phổ Đà Sơn.

Vua Minh Mạng nhiều lần đến thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên và lưu lại dài ngày nơi cảnh Phật; nhiệt tâm ủng hộ và góp công lớn để tôn tạo Ngũ Hành Sơn có quy mô bề thế, để lại nhiều công trình kiến trúc giá trị. Năm 1825, vua Minh Mạng đến thăm Ngũ Hành Sơn, quyết định đặt lại các danh xưng, cho khắc tên trên thềm và sườn núi; đồng thời tiến hành tu sửa chùa Tam Thai và xây dựng chùa Ứng Chân, gọi là Ứng Chân Tự (đến đời vua Thành Thái đổi tên thành Linh Ứng Tự).

Chùa Linh Ứng thờ tam thế Phật, chính giữa Phật Thích Ca, bên phải Di Lặc, bên trái Di Đà; có tượng lớn Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (năm 1970 các tăng ni, Phật tử Quảng Nam-Đà Nẵng xây lại chùa mới). Năm 1826, nhà vua cho đúc 9 pho tượng và 3 quả chuông lớn ở chùa Tam Thai, hiện chùa còn lưu giữ “quả tim lửa” và chiếc chuông khắc tên vua Minh Mạng. Các chùa Tam Thai, Linh Ứng cũng đã được sắc ban là Quốc tự.

Qua nhiều giai đoạn lịch sử, ở Ngũ Hành Sơn có 13 ngôi chùa Phật giáo được xây dựng. Các chùa tại Ngũ Hành Sơn thường kết hợp giữa thờ Phật và tưởng vọng các triều đại có công lao đối với dân tộc; như ở chùa Từ Tâm thờ Địa Tạng, lại có bàn thờ tưởng nhớ các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê và cả bàn thờ cho các linh hồn lạc lõng không ai thờ cúng, không nơi nương tựa. Nhiều ngôi chùa ở Ngũ Hành Sơn lưu giữ những hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, tôn giáo quý giá.

Chùa tại Ngũ Hành Sơn thường nằm cạnh các hang động trong khung cảnh thiên nhiên hữu tình, và hang động đã làm cho chùa tăng thêm vẻ thâm nghiêm. Ở đây có nhiều hang động như Hoa Nghiêm, Huyền Không, Vân Nguyệt, Vân Thông, Nguyệt Quật, Âm Phủ, Tàng Chân, Quán Thế Âm, Huyền Vi…

Hang động ở Ngũ Hành Sơn có cảnh sắc kỳ lạ, khi ánh nắng mặt trời len qua các ngách đá tạo sự lấp lánh trên thạch nhũ với vô số hình hài khác nhau. Ở động Quán Thế Âm, nhiều thạch nhũ tạo ra những tượng Phật rất độc đáo, như khối thạch nhũ tạo thành tượng Quán Thế Âm Bồ Tát thanh tú. Một lớp da đá như dải lụa kim tuyến phủ từ bờ vai phải chạy đến hết thân tượng, tay phải nâng bình nước cam lồ. Trong động Quán Thế Âm còn có bộ tam khí nhà Phật gồm chuông, trống, mõ bằng đá, đánh phát ra âm thanh. Cuối động là hồ nước mát lạnh, trong suốt quanh năm tựa hồ nước cam lồ.

Động Tàng Chân sau chùa Linh Ứng thông lên trời qua cửa Thiên Long Cốc, có hai cửa hang gọi là Vân Nguyệt Cốc (hang của mây và trăng) và động Vân Thông (động thông với mây). Thiên Long Cốc (hang của rồng và trời) có miếu thờ Thái Thượng Lão Quân, bên trái thờ Bát bộ Kim Cương, bên phải là tượng thần của người Chăm. Âm Phủ huyệt nằm ở phía nam Thủy Sơn, thiếu ánh sáng mặt trời, càng sâu càng tối, thông ra tới biển, nên có tên là Âm Phủ.

Động Huyền Không đi qua cổng vòm Huyền Không Quan, cửa hơi hẹp, động tối, những bậc đi xuống sâu, giữ cửa động có hai tượng ông Thiện và ông Ác. Trong hang có ánh sáng từ trên cao chiếu qua lỗ trống trên động, càng tăng sự lung linh huyền bí. Vòm động cao, thạch nhũ bám vào vách với nhiều đường nét thiên nhiên, cộng với bàn tay con người tạo thêm nhiều hình ảnh như tượng Phật Quán Thế Âm trên bệ thờ, thạch nhũ nhỏ nước tí tách, dưới nền có khối đá điêu khắc tượng của người Chăm, trên bàn thờ có tượng Thiên-Y-A-Na (Bà  Chúa  Ngọc).

Ngoài ra, còn các động nhỏ hơn như Tam Thanh (Thanh Thanh Tiên động), Hang Gió – còn gọi là Hang Thần Thượng (hang của các Thần bề trên), động Chiêm Thành (Champa), động Bàn Cờ, hang Ráy… cũng mang đầy vẻ thâm nghiêm.

Nhìn toàn cảnh, Ngũ Hành Sơn như một vọng hải đài ở Đà Nẵng nhìn ra biển Đông đầy vẻ chiêm nghiệm, bởi ngọn núi Ngũ Hành vẫn luôn chứa đầy hơi thở của thế giới tâm linh trải suốt cả ngàn năm, từ tâm linh Chăm qua tâm linh Việt.

Toàn cảnh Ngũ Hành Sơn

Tọa lạc giữa lòng thành phố, Ngũ Hành Sơn vẫn là một vùng thắng cảnh sinh thái tự nhiên đan xen đời sống văn hóa tâm linh một cách hài hòa; tồn tại trong lòng đô thị hiện đại nhưng không bị lạc điệu và mất đi giá trị văn hóa tâm linh. Sự xác lập và gắn bó lâu đời, sâu sắc, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của Phật giáo và các tín ngưỡng tâm linh truyền thống của cư dân bản địa, đã biến Ngũ Hành Sơn thành một mảnh đất thiêng, núi thiêng thấm đượm tinh thần giải thoát.

Yếu tố tâm linh được xác lập vững chắc khiến Ngũ Hành Sơn không chỉ là một thắng cảnh dành cho khách thập phương đến thưởng ngoạn di tích lịch sử-văn hóa, vẻ đẹp thiên nhiên, hít thở không khí trong lành của khu sinh thái; mà còn là nơi linh địa, tôn thờ các vị tiên nhân, Phật thánh cứu nhân độ thế ngót cả ngàn năm; nơi dành cho các bậc chân tu tu tập, tham thiền nhập định để cầu phúc cho dân và bản thân được siêu thoát; nơi giúp người trần tục tạm quên những vướng bận đời thường, hướng đến sự tịnh tâm thanh thản trong thế giới tâm linh.

Trung Quốc có “Tứ Đại Phật Sơn” nổi tiếng là Ngũ Đài Sơn, Nga Mi Sơn, Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn tập trung rất nhiều chùa, khiến không chỉ tăng đồ, mà du khách trong và ngoài nước luôn nườm nượp tìm đến vãn cảnh. Trong đó, Phổ Đà Sơn nổi tiếng về sự linh ứng của Quán Thế Âm Bồ Tát như Ngũ Hành Sơn ở Việt Nam. Các địa phương ở Trung Quốc có Tứ Đại Phật Sơn nhờ thế trở nên sầm uất và kinh tế-xã hội phát triển.

Ngũ Hành Sơn với khí thiêng un đúc cả ngàn năm, từ Chăm đến Việt; với truyền thống Phật giáo và các tín ngưỡng địa phương được xác lập trong một không gian đặc thù qua hàng chục công trình chùa tháp, hang động; với Lễ hội Quán Thế Âm được duy trì vào 19-2 âm lịch hằng năm… đã biến Ngũ Hành Sơn thành một “Đại Phật Sơn” ở Việt Nam trong thực tế!

Bằng những giá trị đã được thừa nhận, thiết nghĩ việc đầu tư quản lý, trùng tu, tôn tạo, phát triển hợp lý Ngũ Hành Sơn thành một trung tâm văn hóa tâm linh là hết sức cần thiết. Đó không chỉ là sự thừa nhận khách quan chiều dài lịch sử của vùng đất, mà còn là sự công nhận những giá trị văn hóa tinh thần cao cả đã sản sinh trên vùng đất này.

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa tinh thần nói chung, văn hóa tâm linh nói riêng giữ vai trò động lực phát triển không kém phần quan trọng. Vì thế, cần có quy hoạch và cơ chế quản lý tương xứng của thành phố để phát huy thế mạnh văn hóa tâm linh của Ngũ Hành Sơn, tạo sự thăng bằng trong tổng thể cảnh quan đô thị Đà Nẵng, sự hài hòa trong cuộc sống và sinh hoạt xã hội, sự cuốn hút khách thập phương; ngõ hầu thiết thực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn và thành phố Đà Nẵng.

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGŨ HÀNH SƠN

Theo truyền thuyết của người Chăm, thuở xa xưa có một ẩn sĩ sống giữa bãi cát mênh mông bên bờ biển. Một hôm, ẩn sĩ thấy Nữ Thần Naga xuất hiện, mang theo một cái trứng, giao cho Thần Kim Quy cất giữ ngả phía sông Hàn để trừ khử sự quấy nhiễu của ma quái. Thần Kim Quy để quả trứng lại nhờ ẩn sĩ chăm sóc, và tặng ẩn sĩ một cái móng rùa để bảo vệ trứng.

Dưới sự theo dõi, bảo vệ của ẩn sĩ, quả trứng ngày càng lớn nhanh một cách kỳ dị. Một hôm, sau giấc ngủ say, ẩn sĩ tỉnh mộng và nhìn thấy một thiếu nữ xinh đẹp từ trong trứng bước ra, vỏ trứng nứt làm 5 mảnh, trở thành 5 trái núi, là Ngũ Hành Sơn ngày nay. Vua Chăm nghe được câu chuyện ấy liền cưới thiếu nữ làm vợ, còn Thần Kim Quy chở ẩn sĩ biến lên trời.

http://hophan.net/?cmd=act:news|newsid:284

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN (Báo Đà Nẵng)

Tháng Sáu 24, 2009 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hội lương bằng ở làng Đại Bình, Nông Sơn, Quảng Nam

Các vị trưởng lão thế hệ thứ 4 làng Đại Bình.

Nói đến làng Đại Bình, nhiều người thường nghĩ đến một làng cây trái, nằm yên ả thanh bình về phía tả ngạn thượng nguồn Thu Bồn. Thực ra, Đại Bình còn là một làng văn hóa đặc thù mang tính cộng đồng, trong đó đáng kể là việc thiết lập Hội lương bằng.

Kể từ năm Quý Mão 1793, đời Thái Đức thứ 6 làng được thành lập với dân số vỏn vẹn 19 người (không kể phụ nữ). Đến tháng 8 năm Thái Đức thứ 7, dân làng lại đệ đơn xin thành lập xích hậu, nơi họp hội dân làng. Hơn 200 năm sau, nơi này chính là trụ sở của thôn Đại Bình (1).

Thuở khai sơn phá thạch, khai hoang vỡ hóa, ông cha ta phải chống chọi với thú dữ, thời tiết khắc nghiệt của vùng thung lũng hoang sơ để tạo dựng một cuộc sống mới, xây đắp một ngôi làng mà ngày nay ruộng vườn trù phú. Tính đến tháng 8 năm 2008, Đại Bình đã có 315 hộ dân với 1.500 nhân khẩu. Điện đường, trường học đã khang trang tiện lợi hơn xưa. Tiếc thay, một ngôi làng mang đậm sắc thái dân tộc với một nếp sống văn hóa đặc thù mà vẫn chưa tái tạo được ngôi đình làng, mà trước đây đã bị cơn lụt năm Thìn 1964 cuốn trôi, kể cả ngôi thờ Chiêu Võ Liệt, nơi tôn nghiêm uy vũ đó còn gọi là Lương bằng chư tộc nằm ở phía đầu làng.

Theo một số tư liệu còn cất giữ ở làng Đại Bình thì ngôi thờ Chiêu Võ Liệt được nhân dân làng xây cất từ ngày 16 tháng 5 âm lịch, năm Thiệu Trị thứ hai, vuông vức mỗi chiều 12m, chia làm ba gian. Trước sân có bình phong trụ biểu, mái lợp ngói bình hoa khang trang, rực rỡ với kinh phí do nhân dân đóng góp lên tới 59 quan tiền. Gian giữa Chiêu Võ Liệt thờ tượng Quan Thánh uy nghi, hai bên thờ tiên linh của lương bằng chư tộc. Nơi trang trọng ở gian giữa, treo một tấm biển lớn với ba chữ Chiêu Võ Liệt sơn son thếp vàng. Lương bằng chư tộc gồm 13 tộc họ của làng Đại Bình với mục đích nêu cao tinh thần yêu nước, xây dựng quê hương, noi gương tiết nghĩa của Quan Thánh (2). “Trung can xang vũ trụ, nghĩa khí quán càn khôn”, “Lấy trung can nghĩa khí để phụng sự Tổ quốc (3), “Vạn vật tất hàm thiên địa hóa; ý thời sanh trưởng dữ nhơn linh”. Ngoài một số tư liệu còn lưu giữ tại thư quán Quốc Tín, không còn tìm thấy một tư liệu nào nói rõ hơn về sự hình thành và tập hợp một ý thức hệ yêu nước mà Chiêu Võ Liệt là bằng chứng cụ thể để đánh giá nguồn cội của một làng văn hóa đặc thù ở nơi này. Nếu ngày ấy, Chiêu Võ Liệt ở Đại Bình là một nơi thờ Quan Thánh duy nhất ở huyện Quế Sơn dưới dạng của một Hội Lương bằng mà khởi sự chỉ có 27 hội viên, giám bổn là ông Nguyễn Văn Nhuận (5), thì ai là người đề xướng tinh thần yêu nước mang tính cộng đồng này? Lương bằng chư tộc là một cộng đồng, mà tất cả các họ tộc trong làng được coi như một tộc, một ý chỉ đoàn kết, tương thân tương trợ, chia sẻ ngọt bùi trong tinh thần xây dựng làng xóm.

Văn bản xây dựng Chiêu vỏ liệt Đại Bình 16-5 âm lịch năm Thiệu Trị thứ 2).

Đại Bình chỉ là một làng nhỏ nằm dưới chân dải Trường Sơn bát ngát, có dòng sông Thu Bồn chạy quanh. Sơn thủy hữu tình như thế, vừa mới khai phá, định cư chưa được bao lâu thì các cụ ngày xưa đã sớm truyền lưu những giá trị ý thức hệ Nho giáo cho dân làng, lấy cái đức của Quan Thánh Đế Quân làm nền tảng cho đời sống của cộng đồng, lấy Trung Can Nghĩa Khí của một bậc thánh nhân làm triết lý riêng cho dân làng để tiến đến mục tiêu xây dựng một cộng đồng bảo vệ quê hương, ý nghĩa đó đã biểu lộ rõ ràng hơn trong những câu liễn treo ngay ở gian thờ Quan Thánh:

Bổn tộc đẳng thiết niệm
Quốc triều gia tăng Quan Thánh Đế Quân chi đức.
1. “Long nhan tú vị
2. Phụng nhãn thù thường
3. Thao quang phạn vỏ
4. Hối tích thiền hương
5. Tư nhơn xuân tiết
6. Thiết hội lương bằng”
Xin được tạm dịch:

1) Long nhan tú vị: Mặt rồng quái gở, ý nói tình hình đất nước đã đổi thay, khác thường – chỉ chỗ thực dân Pháp đã xâm nhập một cách trắng trợn vào triều đình Huế.

2) Phụng nhãn thù thường: Mắt chim phụng đã thay đổi, ý nói nhà vua có mắt mà không có con ngươi.

3) Thao quang phạn vỏ: Đất nước, triều đình, vua quan như vậy, mà ánh sáng của nhà Phật cũng lu mờ như thời cuộc nhiễu nhương.

4) Hối tích thiền hương: Trên con đường làng này chẳng còn thấy dấu chân nhà Thiền qua lại.

Vì thế (câu 5 và 6) nhân dịp mùa xuân mà thiết lập Hội Lương bằng.

Ai là tác giả ý tưởng ưu tư thời cuộc lúc bấy giờ? Mười sáu chữ mang nặng nỗi ưu thời mẫn thế, như chí khí của một anh hùng đang mài gươm dưới nguyệt. Mười sáu chữ thâu tóm cái tinh hoa minh triết của Nho học, cái khí tiết của bậc thánh nhân mà ánh hào quang như đang dẫn đường cho một vùng quê nhỏ bé Đại Bình! Do vậy, chế độ phong kiến và thực dân Pháp thời bấy giờ đã truy lùng, tìm cách phá vỡ những hội đoàn, những lực lượng yêu nước chống lại triều đình. Ngọn lửa cách mạng đang bùng cháy ở khắp nơi mà nhất là ở Quảng Nam, cái nôi của cách mạng, phải chăng Chiêu Võ Liệt là một điểm nối của cuộc cách mạng dân tộc mà Lương bằng tộc của Đại Bình một ví dụ?

Theo nhận xét chủ quan thì người treo 16 chữ kể trên ở gian giữa Chiêu Võ Liệt – Lương bằng chư tộc Đại Bình không phải là những kẻ liều chết, mà là những người xuất thân từ nông dân yêu nước, những anh hùng đi tiên phong cho cuộc cách mạng sau này. Họ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc, nếu cần cả Hội Lương bằng sẽ chết cho quê hương, Tổ quốc được sống còn. Ngày nay người dân Đại Bình vẫn còn giữ nguyên cái nếp sống cộng đồng, cho nên việc quan, hôn, tang, tế trong làng gần như là việc chung của mọi người dân. Có việc vui mừng cả làng đều vui, có việc buồn cả làng đều chia sẻ. Và sau mấy mươi năm đất nước lâm vào cảnh chiến tranh, Đại Bình vẫn bình yên như cái hằng tâm của con người xứ này.

Cũng cần nhắc lại, trong giai đoạn lịch sử cận đại cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân Pháp của Nguyễn Duy Hiệu lập căn cứ trong vùng núi Chúa (Quế Lộc) thì Đại Bình chính là pháo đài ngăn chặn bước tiến quân của thực dân Pháp mà dấu tích còn ghi lại. Ở phía đầu làng có một ngọn đồi tên là Nổng Pháo, và cuối làng ở Hố Chuối còn một cây đại pháo khác. Cây đại pháo trên Nổng Pháo để bắn chặn quân Pháp nếu chúng đổ bộ qua ngả đèo Le. Cây đại pháo đặt ở Hố Chuối dùng để bắn vào tàu Pháp nếu chúng tiến quân bằng đường thủy. Đáng  tiếc, hai cây đại pháo này đã mất tích.

Kể từ khi có Chiêu Võ Liệt, dân làng Đại Bình vẫn lấy ngày kỷ niệm Quan Thánh Đế Quân 24 tháng 8 âm lịch hằng năm làm ngày đại hội của Lương bằng chư tộc, đồng thời cũng là ngày cúng giỗ tiên linh của làng. Tiếc thay thời gian và thời tiết khắc nghiệt của vùng thung lũng đầu nguồn đã xóa đi bao dấu tích lịch sử uy nghi của một thời vàng son chói lọi.

_______
1 – 5 – 6: Theo tư liệu thư quán Quốc Tín Đại Bình.
2-3: Kinh Quan Thánh.

HOÀNG QUY (Theo Báo Quảng Nam)

Tháng Mười Hai 10, 2008 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nguyễn Phúc Nguyên – Vị chúa mở cõi, thành lập đội Hoàng Sa

Không chỉ vượt qua Thạch Bi Sơn gây dựng cơ sở đầu tiên trên đất Nam Bộ, khởi dựng hình hài lãnh thổ Việt Nam như hiện tại, nhiều sử liệu cho thấy chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn là người đầu tiên tổ chức đội Hoàng Sa – hình thức độc đáo, khai chiếm xác lập chủ quyền trên các vùng đảo giữa Biển Đông.

>> Nguyễn Phúc Nguyên: Vị chúa kỳ công mở cõi đầu thế kỷ XVII (kỳ 1)

3. Vượt qua Thạch Bi Sơn gây dựng những cơ sở đầu tiên trên đất Nam Bộ, người khởi dựng hình hài lãnh thổ của nước Việt Nam hiện đại

Bản đồ Việt Nam, phần màu vàng có thể là phần đất mà chúa Nguyễn Hoàng đã mở mang được (Nguồn: wikipedia)

Năm 1611 nhân vì quân Chămpa đánh ra phía bắc đèo Cù Mông (Bình Định), chúa Nguyễn Hoàng sai chủ sự là Văn Phong đem quân đánh chiếm vùng đất từ đèo Cù Mông cho đến núi Thạch Bi của Chămpa và đặt làm phủ Phú Yên, giao cho Văn Phong làm lưu thủ.

Văn Phong lâu năm ở Phú Yên, kết thân với người Chăm đã dùng quân Chăm chống lại chúa Nguyễn, bị Nguyễn Phúc Nguyên cử phó tướng Nguyễn Phúc Vinh đem quân đánh dẹp, lập ra dinh Trấn Biên. Lương Văn Chính là người có công đầu trong việc chiêu tập lưu dân khai khẩn đất hoang lập ra nhiều thôn ấp của người Việt, nhanh chóng biến toàn bộ khu đất mới được tích hợp vào đất Đàng Trong thành địa bàn căn bản của chúa Nguyễn.

Không dừng lại ở khu vực Phú Yên, ngay từ đầu thế kỷ XVII, đã bắt đầu có những nhóm cư dân người Việt ở Thuận – Quảng đi thẳng vào khu vực Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên Hoà) tiến hành khai khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ.

Năm 1620, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chấp thuận lời cầu hôn của Quốc vương Chân Lạp, cho một người con gái của mình là Công chúa Ngọc Vạn kết hôn với Chey Chetta II. Sự việc này cũng đã được Christoforo Borri xác nhận[13].

Theo truyền thống gia đình và quê hương, công chúa Ngọc Vạn là người tôn sùng Phật giáo nên có nhiều thuận lợi hoà nhập được ngay vào môi trường văn hoá- tín ngưỡng của Hoàng gia và xã hội Chân Lạp. Bà được Quốc vương Chey Chetta II đặc biệt đề cao về sắc đẹp và đức tính khoan hoà đã phong làm Hoàng hậu với tước hiệu Somdach Prea Peaccac Vodey Prea Voreac Khsattrey. 

Cùng chủ đề:

>> Xác lập nhận thức mới về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

>> Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

>> GS Phan Huy Lê:Khách quan -Trung thực -Công bằng về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

>> Cần khai thông các nguồn sử liệu về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

Trong bối cảnh Chân Lạp đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt bởi quân Xiêm ở phía Tây, trước sự lớn mạnh và chủ trương hoà hiếu của chính quyền Đàng Trong, Hoàng hậu Ngọc Vạn trở thành sứ giả đại diện cho cả hai vương triều Đàng Trong, Chân Lạp trong các chính sách đối ngoại, đối nội và không chỉ phụng sự cho riêng một vương triều nào.

Nhờ có sự giúp đỡ hiệu quả của Đàng Trong mà Chey Chetta II đã nhiều lần liên tục đánh bại các cuộc tấn công xâm lược của quân Xiêm, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của Chân Lạp trong khu vực. Chey Chetta II chỉ ở ngôi trong khoảng 11 năm (1618-1628), nhưng đã tạo dựng được một giai đoạn ổn định và phát triển huy hoàng trong điều kiện vô cùng gian nan, khốn khó.

Nhiều nhóm cư dân Việt ở vùng Thuận – Quảng từ hai thập kỷ đầu thế kỷ XVII đã tự phát tìm vào sinh sống làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai, đến nay có thêm sự bảo trợ của bà Hoàng hậu của vương triều Chey Chetta II nên di cư ngày một đông thêm và tiến sâu hơn đến những vùng đất chưa được khai thác ở đồng bằng sông Cửu Long.

Thậm chí có nhóm dân cư còn tiến ra chiếm lĩnh các hải đảo và cũng có nhóm đã đi sát đến kinh đô Udong. Đây chính là cơ sở khách quan và thuận lợi cho Chúa Nguyễn từng bước hợp pháp hoá sự kiểm soát của mình một cách hoà bình đối với vùng đất đã được người Việt tổ chức khai khẩn.

Năm 1623, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chủ động đặt ra và thương lượng thành công với Chey Chetta II, lập hai thương điếm (đồn thu thuế) là Kas Krobei trên bờ sông Sài Gòn (xưa gọi là sông Bến Nghé) và Brai Kor trên bờ rạch Bến Nghé hay kênh Tàu Hủ (xưa gọi là rạch Sài Gòn – khu Chợ Lớn từ năm 1859), thuộc địa phận thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, để tiến hành thu thuế. Biên niên sử Chân Lạp chép về sự kiện này đã xác nhận vai trò đặc biệt quan trọng của Hoàng hậu Ang Cuv (tên của Ngọc Vạn) trong quá trình thương lượng.

 Rạch Bến Nghé là bến cảng tiếp các thuyền buôn các nơi đến buôn bán với
Sài Gòn-Chợ Lớn. (nguồn ảnh: tienganh.com.vn)

Georges Maspéro trong sách Đế quốc Khmer khảo cứu kỹ biên niên sử Khmer cũng cho biết rõ thêm: “Nhà Vua mới lên ngôi Chey Chetta II liền xây một cung điện ở Oudong (U Đông). Nơi đây ông long trọng cử hành lễ cưới một công chúa con Vua An Nam. Bà này rất đẹp. Chẳng bao lâu, bà có ảnh hưởng mạnh đến nhà Vua. Nhờ bà mà một sứ đoàn An Nam đã xin được Chey Chetta cho phép lập thương điếm trong miền Nam Cao Miên, ở chính nơi ngày nay là Sài Gòn”[14].

Cuộc hôn nhân Chey Chetta II – Ngọc Vạn vốn là cuộc hôn nhân chính trị đã trở thành trọn vẹn do đáp ứng được đầy đủ lợi ích của cả hai hoàng gia, hai vương triều và rộng ra là cả hai đất nước. Không chỉ có các nhà viết sử Việt Nam mà các nhà viết sử Cămpuchia và các chuyên gia sử học khác trên thế giới khi đề cập đến sự kiện này đều ca ngợi sự nghiệp, công đức cũng như những đóng góp cho đất nước, cho hoà bình và phát triển khu vực của cả Quốc vương Chey Chetta II và Hoàng hậu Ngọc Vạn.

Riêng đối với chúa Nguyễn Phúc Nguyên thì đây phải được xem là bước đi cần thiết, căn bản và hết sức tài khéo để cắm một cái mốc chủ quyền đầu tiên của chính quyền Đàng Trong trên vùng đất Nam Bộ.

Năm 1757 với việc Quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn Phúc Khoát, chúa Nguyễn về cơ bản đã hoàn thành công cuộc khai chiếm toàn bộ vùng đất Nam Bộ, cả đất liền và các hải đảo thuộc Biển Đông và Biển Tây, xác lập và ổn định phạm vi lãnh thổ tương đương với lãnh thổ Việt Nam hiện nay.

IV. Tổ chức đội Hoàng Sa – hình thức độc đáo, duy nhất khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông

Quần đảo Trường Sa trong sớm mai (Ảnh: Tuấn Phạm)

Cuốn sách xưa nhất và ghi chép khá đầy đủ và cụ thể về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn viết vào năm 1776 trên cơ sở sưu tầm, tập hợp tư liệu, ghi chép những điều tai nghe, mắt thấy trong 6 tháng ông làm Hiệp trấn hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam. Sách chép: “Phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré,….; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải….

Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về…

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được.” [15]

Như vậy, thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, khách quan, xác thực, Lê Quý Đôn đã giới thiệu tương đối đầy đủ vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải.

Bộ sách được hoàn thành chỉ sau Phủ biên tạp lục một thời gian ngắn là Đại Việt sử ký tục biên[16]. Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê Trịnh tổ chức biên soạn, nối tiếp vào quyển XIX sách Đại Việt sử ký toàn thư, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn.

Đại Nam thực lục Tiền biên là phần đầu bộ chính sử của triều Nguyễn được khởi soạn năm 1821, hoàn thành và khắc in năm 1844, nhân nói đến sự kiện tháng 7 năm 1754 “dân đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp gió dạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh. Tổng đốc Thanh hậu cấp cho rồi cho đưa về. Chúa [Nguyễn Phúc Khoát] sai viết thư [cám ơn]” [17] đã mô tả Vạn Lý Trường Sa và các đội Hoàng Sa, Bắc Hải được tổ chức từ thời “quốc sơ” (tức là từ thời các chúa Nguyễn đầu tiên) không có gì khác với Phủ Biên tạp lục và Đại Việt sử ký tục biên.

Toàn tập An Nam lộ của Đỗ Bá Công Đạo người xã Bích Triều, huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An soạn năm Chính Hoà thứ 7 (1686), phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng và ghi chú rõ: “Mỗi năm đến tháng cuối đông [chúa Nguyễn] đưa 18 chiếc thuyền đến đó [Bãi Cát Vàng] nhặt vàng bạc”[18].

Khoảng một thập kỷ sau, vị Hoà thượng Trung Quốc nổi tiếng trụ trì ở chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông là Thích Đại Sán sang Đàng Trong trên đường trở về Trung Quốc đã mô tả khá chi tiết về bãi cát Vạn Lý Trường Sa và cho biết: “Các Quốc vương [tức các chúa Nguyễn] thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào”[19]. Năm 1701, nghĩa là chỉ 15 năm sau bản đồ Đỗ Bá và 4-5 năm sau Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, các giáo sĩ người Pháp trên tầu Amphitrite khẳng định: “Paracel là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam”[20].

Như thế các tư liệu đương đại của cả Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây đều chép rất cụ thể, rõ ràng và thống nhất về sự hiện diện của đội Hoàng Sa vào thời kỳ đầu (“buổi quốc sơ”) của các chúa Nguyễn trong thế kỷ XVII. Vấn đề đặt ra là vào thời điểm cụ thể nào và vị chúa Nguyễn nào là người đầu tiên tổ chức ra đội Hoàng Sa?.

Tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (thôn Tây xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn đề ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) do Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh đứng tên xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa. Đơn cho biết: “Nguyên xã chúng tôi xưa có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người…”.

Đối chiếu tư liệu này với nguồn tư liệu phương Tây đương đại, chúng tôi có thêm những thông tin để xác định thời điểm ra đời của đội Hoàng Sa.

Năm 1633, phái bộ thương gia Hà Lan do Paulus Traudenius dẫn đầu đã đến vịnh Đà Nẵng và đến 1636, người Hà Lan đã được phép mở một thương điếm ở Faifoo (Hội An), dưới quyền điều hành của Abraham Duijcker.

Ngày 6 tháng 3 hai tàu Hà Lan là Warmont và Grol đi từ Nhật Bản đã đến Đà Nẵng, được chính quyền Đàng Trong tiếp đón. ở Hội An chúa Nguyễn Phúc Lan cũng đã tiếp Duijcker. Trong cuộc tiếp kiến này “Duijcker đã chuyển đến Chúa một điều khiếu nại. Đó là việc chiếc tàu mang tên Grootenbroeck đã bị đắm ở ngoài khơi bãi cát Paracels, đoàn thuỷ thủ đã được các người Việt xứ Đàng Trong cứu giúp, nhưng đồng thời cũng lấy đi tổng số món tiền là 25.580 réaux, vậy nên trưởng điếm Duijcker có nhiệm vụ xin được bồi hoàn món tiền đó.

Ông ta được trả lời rằng những việc đó đã được xảy ra từ thời chúa trước (tức chúa Nguyễn Phúc Nguyên), không nên đề cập đến nữa, ngược lại, người Hà Lan từ nay sẽ được hoàn toàn tự do mang hàng hoá đến buôn bán, được miễn thuế, vả lại, sau này nếu có tàu Hà Lan mà bị đắm ở ngoài khơi thì sẽ không có chuyện tịch thu hàng hoá được cứu hộ nữa”[21].

Tư liệu chung quanh vụ đắm tàu Grootenbroeck ở Hoàng Sa năm 1634 xác nhận vai trò của những đoàn người Việt xứ Đàng Trong ở quần đảo Hoàng Sa làm công tác cứu hộ, rồi đưa các nạn nhân về vùng Quảng Nam. Họ thường xuyên đi thuyền ra Hoàng Sa kiểm soát vùng biển và đảo.

Chúng ta có đủ cơ sở để tin rằng lực lượng người Việt xứ Đàng Trong cứu tầu Grootenbreock tại Hoàng Sa năm 1634 chính là những người của đội Hoàng Sa đảo Lý Sơn (được thành lập trước năm Tân Mùi (1631) qua phản ánh của tờ đơn xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa lưu tại nhà thờ họ Võ phường An Vĩnh).

Chúa Nguyễn Hoàng vào nam dựng nghiệp giữa lúc nhu cầu chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông đặt ra gay gắt và bức thiết. Được thừa hưởng những cơ sở và kinh nghiệm của người Chăm và vương quốc Chămpa trước đây, Nguyễn Hoàng đã sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những buớc đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông, nhưng chưa thấy có tư liệu nào khả dĩ cho hay vào thời kỳ Nguyễn Hoàng (1558-1613) đã có đội Hoàng Sa.

Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo chúng tôi, chỉ thật sự bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền. Các sự kiện có liên quan đến hoạt động của đội Hoàng Sa xảy ra vào các năm 1634, 1631 hay trước 1631 một ít năm, thì cũng đều nằm trong thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635).

Có đủ cơ sở để khẳng định đội Hoàng Sa xuất hiện lần đầu tiên vào thời thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Nguyên hay chúa Nguyễn Phúc Nguyên chính là người đã sáng tạo ra một hình thức khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông hết sức độc đáo là đội Hoàng Sa.

Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang đẹp nhất, bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa mở đầu, khai sáng.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển) (Theo Tuần Việt Nam)

* Bài trích từ tham luận tại Hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong Lịch sử Việt Nam” ngày 18 – 19/10/2008. Tiêu đề kỳ 2 do tòa soạn đặt.

—————–
Ghi chú:

[13] Christoforo Borri, Cochin – China, London, 1633, Da Capo press. Theatrem Orbis Ltd Amsterdam, New York, 1970, Chap.VII, p. H.4. Tác giả còn cho biết rõ Quốc vương Chân Lạp, nguời kết hôn với con gái Chúa Nguyễn (Phúc Nguyên) đã xin Chúa viện trợ khí tài và quân đội để chống Xiêm. Thực tế chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã “chuẩn bị vũ khí và mộ binh giúp vua Cămpuchia, cung cấp cho vua này thuyền chiến và quân binh để cầm cự với vua Xiêm”.

[14] G. Maspéro, L’empire Khmer, Phnom Penh, 1904, p. 61.

[15] Lê Quý Đôn: Toàn tập (Phủ Biên tạp lục), T.1, Bản dịch Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr 116.

[16] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Bản dịch Nxb KHXH, Hà Nội, 1991, tr 243-244.

[17] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, TI, Bản dịch đã dẫn, tr 164.

[18] Phần chú bằng chữ Nôm Toản tập An Nam lộ trong Thiên hạ bản đồ lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2628.

[19] Thích Đại Sán: Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế, 1963, tr.125.

[20] Jean.Yves Clayes: Journal de Voyage aux Paracels (Indochine No 45, 1941, tr.7).

[21] Ch.B.Maybon: Les marchands europe”ens are Cochinchine et au Tonkin (1660-1775), (Revue Indochinoise 1916).

Tháng Mười Một 24, 2008 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nguyễn Phúc Nguyên: vị chúa kỳ công mở cõi đầu thế kỷ XVII

Chúa Đàng Trong [Chúa Nguyễn Phúc Nguyên] không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc cùng với tàu chở rất nhiều hàng hoá. Trong bối cảnh giao lưu buôn bán quốc tế tấp nập và sôi động như vậy, Hội An những thập kỷ đầu thế kỷ XVII đã đột khởi trở thành một đô thị, cảng thị quốc tế tiêu biểu ở khu vực châu Á.


Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ 6 của chúa Nguyễn Hoàng, sinh năm Quý Hợi (1663), sau khi Nguyễn Hoàng đã vào trấn thủ ở Thuận Hoá được 5 năm. Là người đại diện cho xu thế phát triển của đất nước, Nguyễn Hoàng quyết chí vào Nam dựng nghiệp với hàng loạt những dự định lớn lao. Ông toàn tâm, toàn ý chăm lo phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực về mọi mặt, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và dự tính những bước đi xa hơn cho các thế hệ con cháu.

Đất Thuận Hoá – Phú Xuân – Huế xưa (Ảnh: baotiepthi.vn)

Nguyễn Phúc Nguyên – bậc thông minh, tài trí hơn người

Cùng chủ đề:

>> Xác lập nhận thức mới về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

>> Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

>> GS Phan Huy Lê:Khách quan -Trung thực -Công bằng về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

>> Cần khai thông các nguồn sử liệu về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

Lê Quý Đôn, người đứng trên lập trường của chúa Trịnh cũng không thể không ca ngợi: “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ nghiêm minh, không ai dám lừa dối… chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, phép tắc công bằng, nghiêm giữ quân sĩ có kỷ luật, cấm chấp kẻ hung bạo. Quân dân hai xứ đều mến yêu kính phục; thay đổi phong tục xấu, ai ai cũng cám ơn và mến đức. Chợ không có hai giá, trong dân gian không có trộm cướp, đêm không phải đóng cổng; thuyền ngoại quốc đến buôn bán, việc giao dịch phân minh, ai cũng cố gắng, toàn cõi nhân dân an cư lạc nghiệp. Hàng năm nộp thuế má để giúp việc quân, việc nước, triều đình cũng được nhờ” [1].

Trong số các con trai của Nguyễn Hoàng, người con đầu là Hà, con thứ hai là Hán, con thứ ba là Thành, con thứ tư là Diễn đều đã mất sớm; người con thứ năm là Hải thì phải gửi lại trên đất Bắc làm con tin, chỉ còn một mình Nguyễn Phúc Nguyên là người có đủ khả năng và điều kiện kế nghiệp cha.

Tuổi nhỏ Nguyễn Phúc Nguyên đã tỏ ra là bậc thông minh, tài trí hơn người. Lớn lên ông càng bộc lộ tài năng kiệt xuất “ngày thường cùng các tướng bàn luận việc binh, tính toán có nhiều việc đúng. Thái Tổ biết có thể trao phó nghiệp lớn, vẫn để ý tới” [2]. Nguyễn Phúc Nguyên đã không phụ lòng tin của cha, thực hiện đầy đủ và trọn vẹn tất cả những gì mà người cha – chúa Nguyễn Hoàng trông đợi và uỷ thác.

I. Xây dựng một vương triều độc lập, thoát ly hẳn sự lệ thuộc với triều đình vua Lê chúa Trịnh

Bản đồ Việt Nam, phần màu vàng có thể là phần đất mà chúa Nguyễn Hoàng đã mở mang được (Nguồn: wikipedia)

Đây là mục tiêu số một của Nguyễn Hoàng khi quyết định vào Nam dựng nghiệp. Tuy nhiên do điều kiện và hoàn cảnh lúc đó, ông phải hết sức kín đáo để tránh mọi sự hoài nghi của chúa Trịnh. Trên danh nghĩa và cả trong thực tế, Nguyễn Hoàng vẫn phải giữ quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê – Trịnh, vẫn làm tướng tiên phong của Nam Triều đi đánh dẹp các dư đảng của nhà Mạc ở Sơn Nam, Hải Dương, Sơn Tây, Thái Nguyên…

Cuối năm 1600, sau khi quyết định trở về ở hẳn Thuận Hoá, đẩy mạnh xây dựng chính quyền độc lập và không nghĩ đến việc quay trở về yết kiến vua Lê nữa, Nguyễn Hoàng vẫn phải giữ quan hệ hoà hiếu với chính quyền Lê – Trịnh, hàng năm vẫn phải nộp thuế má và xin kết nghĩa thông gia với Trịnh Tùng.

Sự nghiệp xây dựng một vương triều độc lập của Nguyễn Hoàng tuy đã có cơ sở bước đầu nhưng vẫn còn hết sức mong manh. Đây chính là điều ông trăn trở nhất và cũng là sự uỷ thác cao nhất cho Nguyễn Phúc Nguyên trước lúc qua đời.

Sách Đại Nam thực lục Tiền biên chép: “Chúa yếu mệt, triệu hoàng tử thứ sáu và thân thần đến trước đền trước giường, bảo thân thần rằng: “Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”.

Rồi chúa cầm tay hoàng tử thứ sáu dặn bảo rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; anh em trước hết phải thân yêu nhau. Mày mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì”. Lại nói: “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi Sơn] vững bền. [3].

Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”

Thực hiện Di chúc của người cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã từng bước ly khai hẳn với triều đình Lê – Trịnh, không chịu nộp thuế, không về chầu triều đình và đánh bại cuộc tấn công quy mô lớn của Trịnh Tráng vào năm 1627, mở đầu cho cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài 45 năm (từ năm 1627 đến năm 1672) với 7 chiến dịch quy mô lớn (trong đó có 6 cuộc quân Trịnh chủ động tấn công vào địa phận của chúa Nguyễn).

Về hình thức thì đây là cuộc nội chiến ác liệt, kéo dài và không phân thắng bại, nhưng nếu xét theo mục đích của cuộc chiến tranh thì thất bại lại thuộc về chính quyền Lê – Trịnh. Lâu nay có nhiều cách đánh giá khác nhau về cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn.

Đương nhiên cuộc chiến tranh đã tiêu huỷ sức người, sức của, triệt phá đồng ruộng xóm làng và dẫn đến chia cắt đất đai thống nhất của quốc gia Đại Việt thì ai cũng nhìn thấy rõ. Chúng ta không thanh minh, không bao biện cho các cuộc chiến tranh, nhất là các cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, nhưng chúng ta cũng không đánh đồng các bên tham chiến.

Có thể nói việc Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Lê – Trịnh không phải chỉ là hành động cát cứ phong kiến đơn thuần vì lợi ích của dòng họ Nguyễn. Nó còn phản ánh một ước nguyện muốn thực thi những chính sách cai trị khác với đường lối chính trị của Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ rập khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan việc làm của Phúc Nguyên có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc” – GS.TSKH Vũ Minh Giang.

Hy vọng rồi đây cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn sẽ được nghiên cứu đầy đủ và kỹ lưỡng hơn, chúng ta sẽ có những đánh giá khách quan và chính xác về nó, nhưng trong điều kiện của tư liệu ngày nay, dưới cái nhìn toàn diện về xu thế đang lên của vương triều chúa Nguyễn, chúng tôi tin rằng nhận định sau đây của GS.TSKH Vũ Minh Giang là có sức thuyết phục: “Có thể nói việc Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Lê – Trịnh không phải chỉ là hành động cát cứ phong kiến đơn thuần vì lợi ích của dòng họ Nguyễn. Nó còn phản ánh một ước nguyện muốn thực thi những chính sách cai trị khác với đường lối chính trị của Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ rập khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan việc làm của Phúc Nguyên có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc” [4].

Từng bước ly khai khỏi chính quyền nhà Lê

Năm 1613 được lên ngôi chúa thì ngay năm sau, năm 1614 Nguyễn Phúc Nguyên quyết định bãi bỏ Đô ty, Thừa ty, Hiến ty theo thiết chế quân sự của hệ thống chính quyền nhà Lê. Tại Chính dinh, ông đặt ra ty Xá sai (coi việc văn án từ tụng, do Đô tri và Ký lục giữ), Tướng thần lại (coi việc trưng thu tiền thóc, phát lương cho quân các đạo, do Cai bạ giữ) và Lệnh sử (coi việc tế tự, lễ tiết và chi cấp lương cho quân đội Chính dinh, do Nha uý giữ).

Bên cạnh đó còn các ty Nội Lệnh sử kiêm coi các thứ thuế, Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở hai xứ về nộp Nội phủ. Tại các dinh ở ngoài, tuỳ theo từng nơi, có nơi Nguyễn Phúc Nguyên chỉ đặt một ty Lệnh sử, nhưng cũng có nơi đăt hai ty Xá sai và Tướng thần lại, có nơi kiêm đặt hai ty Xá sai và Lệnh sử để trông coi việc từ tụng của quân dân, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế ruộng.

Đầu năm sau, năm 1615, các quy chế mới về chức trách và quyền hạn của các phủ, huyện được ban hành. Theo quy chế này thì Tri phủ, Tri huyện giữ việc từ tụng; các thuộc viên: Đề lại, Thông lại chuyên việc tra khám, Huấn đạo, Lễ sinh chuyên việc tế tự…

Năm 1620 Nguyễn Phúc Nguyên lấy lý do chúa Trịnh vô cớ gây chiến đã quyết định chấm dứt hoàn toàn việc nộp cống thuế cho chính quyền Lê – Trịnh.

Năm 1630 chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc của chúa Trịnh Tráng[5]. Đây không chỉ là sự khẳng định dứt khoát chính quyền chúa Nguyễn ở phía Nam là chính quyền độc lập, cắt đứt hẳn mọi quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê – Trịnh ở phía Bắc, mà còn đánh dấu quá trình chuyển đổi căn bản từ một chính quyền địa phương, mang nặng tính chất quân sự của nhà Lê – Trịnh sang một chính quyền dân sự của chúa Nguyễn. Đặc biệt trong quan hệ đối ngoại chúa Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa Nguyễn đầu tiên tự xưng là An Nam Quốc Vương, quan hệ với các nước trong tư thế của một quốc gia độc lập có chủ quyền. GS Kawamoto Kuniye cho rằng điều này đã “biểu lộ nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn trước thời đại mới” [6].

Cải cách hành chính của Nguyễn Phúc Nguyên là cải cách có ý nghĩa then chốt, đặt cơ sở cho những bước tiến xa hơn và vững chắc hơn của triều đình chúa Nguyễn nói riêng và đất nước nói chung.

2. Mở rộng quan hệ giao thương với nước ngoài, thúc đẩy kinh tế hàng hoá trong nước, xây dựng Hội An thành thương cảng quốc tế phồn thịnh

Cầu Nhật Bản giữa lòng Hội An phố cổ (nguồn: ewenbell.com)

Năm 1602 chúa Nguyễn Hoàng có một quyết định hết sức sáng suốt là giao cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam, một vùng “đất tốt, dân đông, sản vật giàu có” và giữ vị trí “yết hầu của miền Thuận Quảng” [7].

Bối cảnh chính trị – kinh tế thế giới và khu vực giai đoạn cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để có thể khai thác và đánh thức nguồn lực trong nước. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên trong thực tế phải được coi là người Việt Nam đầu tiên thực sự thành công trong chiến lược mở rộng quan hệ giao thương với nước ngoài và thúc đẩy kinh tế hàng hoá và đô thị trong nước phát triển lên một trình độ mới.

Trong số các nước phương Đông, Nguyễn Phúc Nguyên đặc biệt quan tâm đến Nhật Bản. Ông không chỉ chủ động xúc tiến quan hệ giao thương với tư cách chính thức của vị đứng đầu nhà nước An Nam (An Nam Quốc Vương), tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thương nhân đến sinh sống, buôn bán ở Hội An, mà còn cho con gái yêu quý của mình sang làm dâu một gia đình thương nhân Nhật Bản ở Nagasaki để thắt chặt hơn nữa quan hệ với giới đại thương Nhật.

Người con rể của Nguyễn Phúc Nguyên là Araki Sotaro vốn thuộc dòng dõi samurai ở Kumamoto đi thuyền mang cờ hiệu của công ty Đông Ấn Hà Lan VOC đến cập cảng Hội An vào năm 1619. Theo sách Ngoại phiên thông thư (quyển 13, tr 87-88) thì cũng đúng vào năm đó chúa Nguyễn Phúc Nguyên quyết định gả con gái của mình cho nhà lái buôn Nhật Bản tài ba này. Ít lâu sau cô đã theo người chồng Nhật Bản về định cư ở Nagasaki. Cô công chúa họ Nguyễn có cuộc sống thật sự hạnh phúc, đắc ý cùng chồng, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trên đất Nhật Bản[8].

Mở cửa thương cảng Hội An, cấp phép cho thuyền buôn ra vào

Thương cảng Hội An tấp nập một thời (Nguồn: ngochieuphoto.com)

Từ năm 1593 Mạc phủ Toyotomi bắt đầu thi hành chính sách Châu ấn thuyền (Shuinsen) cấp giấy phép cho thuyền buôn mở rộng quan hệ thông thương với các nước Đông Nam Á. Nguyễn Phúc Nguyên đã cho mở rộng thương cảng Hội An trở thành thương cảng chính không chỉ của Đàng Trong mà trên toàn khu vực tương đương với Việt Nam và Đông Nam Á hiện nay đón nhiều nhất số thuyền buôn Nhật Bản được cấp giấy phép chính thức.

Theo nghiên cứu của GS Iwao Seiichi thì từ năm 1604 cho đến năm 1634 (tương đương với thời kỳ Nguyễn Phúc Nguyên được giao là Trấn thủ dinh Quảng Nam (1602) và lên ngôi Chúa (1613-1635), Mạc phủ đã cấp 331 giấy phép đến 19 cảng thuộc khu vực Đông Nam Á (bình quân 1 cảng là 17,42 giấy phép) và 130 giấy phép đến 6 cảng thuộc khu vực tương đương với Việt Nam hiên nay (bình quân 1 cảng là 14,33 giấy phép).

Riêng cảng Hội An có 86 thuyền được cấp giấy phép (chiếm 25,98% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Đông Nam Á, gấp gần 5 lần tỷ số bình quân chung cho khu vực và chiếm 66,15% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Việt Nam, gấp 6 lần tỷ số bình quân chung cho Việt Nam) [9].

Bên cạnh thuyền buôn Nhật Bản, thuyền buôn Trung Quốc, Đông Nam Á và nhất là thuyền buôn phương Tây cũng cập bến Hội An ngày một nhiều hơn và thường xuyên hơn. Christoforo Borri nhận xét: “Chúa Đàng Trong [Chúa Nguyễn Phúc Nguyên] không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hoá của họ” [10].

Trong bối cảnh giao lưu buôn bán quốc tế tấp nập và sôi động như vậy, Hội An những thập kỷ đầu thế kỷ XVII đã đột khởi trở thành một đô thị, cảng thị quốc tế tiêu biểu ở khu vực châu Á[11].

Giáo sĩ dòng Tên người Ý là Christoforo Borri, sống tại thị trấn Nước Mặn (nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) những năm 1618-1622 đã mô tả về Hội An như sau: “Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam… Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật người Hoa chọn một địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phố cho tiện việc buôn bán như chúng tôi đã nói.

Thành phố này gọi là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một phố người Hoa và một phố người Nhật. Mỗi phố có một khu vực riêng, có quan cai trị riêng, và sống theo tập tục riêng. Người Hoa có luật lệ và phong tục của người Hoa và người Nhật cũng vậy” [12].

Đây là sự phát triển trội vượt, một hiện tượng kinh tế – xã hội hết sức độc đáo chưa từng xuất hiện trước đó, cũng không thấy lặp lại ở bất cứ đô thị nào trên đất Việt Nam nhiều thế kỷ tiếp sau.

Kỳ sau: Mở rộng vùng Nam Bộ – Xây dựng đội Hoàng Sa, xác lập chủ quyền trên các vùng biển giữa Biển Đông

 (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển)

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

* Bài trích từ tham luận tại Hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong Lịch sử Việt Nam” ngày 18 – 19/10/2008.

Nguyễn Phúc Nguyên:
vị chúa của những kỳ công mở cõi đầu thế kỷ XVII

Nguyễn Phúc Nguyên ngay từ nhỏ đã nổi tiếng là người thông minh, dũng lược. Năm 22 tuổi là tướng chỉ huy một đội thuỷ quân đánh thắng 5 chiếc tầu của ngoại bang đến cướp phá ở vùng Cửa Việt, được khen là bậc “anh kiệt”.

Năm 40 tuổi được giao làm Trấn thủ Quảng Nam, ông đã mở rộng giao lưu buôn bán với các nước phương Đông và phương Tây (đặc biệt là Nhật Bản), xây dựng Hội An thành cảng thị quốc tế phồn thịnh – mà ngày nay đã được công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

Năm 51 tuổi, trở thành người đứng đầu chính quyền chúa Nguyễn, ông đã cải cách nền hành chính, phát triển đất nước về mọi mặt, mở mang lãnh thổ xuống tận khu vực miền Đông và một phần miền Tây Nam Bộ – khởi dựng hình hài lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

Ông là người đầu tiên đặt ra đội Hoàng Sa đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài – một hình thức độc đáo của quá trình khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông.

Dưới quan điểm sử học mới, càng ngày chúng ta càng nhận ra rõ hơn, đầy đủ và chân xác hơn bức chân dung toàn hảo của ông – một vị chúa Nguyễn kiệt xuất nhất trong lịch sử dân tộc, một người Anh hùng đứng ở vị trí hàng đầu của những Anh hùng Mở cõi Việt Nam.

—————————————————————–

Ghi chú:

[1] Lê Quý Đôn: Toàn tập (Phủ Biên tạp lục), T.1, Bản dịch Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr 50.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, Bản dịch Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr 38.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, Bản dịch đã dẫn, tr 37.

[4] Vũ Minh Giang: Đào Duy Từ đã chọn Nguyễn Phúc Nguyên để phò giúp, trong Đào Duy Từ (1572-1634) Thân thế và sự nghiệp, Thanh Hoá, 1993, tr 153.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, TI, Bản dịch đã dẫn, tr 45- 46.

[6] GS Kawamoto Kunye: Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam trong Đô thị cổ Hội An, Nxb KHXH, H, 1991, tr 178. Trong bài viết này tác giả đã căn cứ theo sách Ngoại phiên thông thư xác định đời chúa Nguyễn Hoàng còn ghi hiệu mỗi lần khác nhau, không thống nhất, nhưng từ đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên trở đi đều tự xưng là An Nam Quốc Vương để phát triển hệ thống ngoại giao với các nước, trong đó có Nhật Bản.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, Bản dịch đã dẫn, tr 35- 36.

[8] Tham khảo Nguyễn Quang Ngọc: Về quan hệ giao thương Nhật – Việt đầu thế kỷ XVII qua cảng Nagasaki trong Kỷ yếu Nghiên cứu Văn hoá quốc tế của Đại học nữ Chiêu Hoà số 9, năm 2003, tr 111-115. Tại Nagasaki đến nay vẫn còn dấu tích khu nhà ở, di tích mộ vợ chồng Araki, bia đá, gương đồng (là của hồi môn của công chúa), phong tục cúng giỗ và nhất là lễ hội rước công chúa hàng năm vẫn được tổ chức vào mùa thu tại khu Motoshikkui.

[9] Giấy phép Mạc phủ chính thức cấp cho thuyền buôn ra nước ngoài buôn bán được gọi là Shuinijo. Tham khảo thêm Vũ Minh Giang: Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An trong Đô thị cổ Hội An, Sđd tr 206-207.

[10] Christoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Bản dịch Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr 92.

[11] Ngày 4 tháng 12 năm 1999 UNESCO đã ghi Đô thị cổ Hội An vào danh sách Di sản văn hoá Thế giới vì “Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hoá qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế” (tiêu chí 2) và “Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo” (tiêu chí 5). Tất cả những đặc điểm nổi bật này của cảng thị Hội An đều được khẳng định một cách tuyệt đối trong thời kỳ trị vì của chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

[12] Christoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Bản dịch đã dẫn, tr 91-92.

Tháng Mười Một 24, 2008 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đình làng Lỗ Giáng, Hoà Xuân, Cẩm Lệ, Đà Nẵng

Đình làng Lỗ Giáng và nhà thờ Tiền Hiền, là một di tích văn hóa cổ, được xây dựng cách đây hơn 300 năm, tọa lạc tại phường  Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành Phố Đà Nẵng. Di tích này đã được UBND TP Đà Nẵng công nhận di tích cấp thành phố vào tháng 4/2007.

Theo gia phả các tộc họ và bia ký còn lưu giữ tại chùa Lỗ Giáng, làng Lỗ Giáng được các vị Tiền Hiền của các tộc Dương, Hồ, Nguyễn, Phạm, Lê từ Thanh Hóa di cư vào khai khẩn đất đai để lập làng, từ thời Lê Thánh Tông 1471 (thuộc Huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa bấy giờ).

Ban đầu, Đình và Nhà thờ Tiền Hiền làng Lỗ Giáng xây dựng đơn giản theo lối chòi canh gồ 4 cột, 2 kèo, mái lợp tranh, phần dưới để trống, phần trên làm nơi thờ cúng. Đến năm Bảo Đại nguyên niên (1926), đình làng được mở rộng hơn, kiến trúc theo lối ba gian, hai chái, có tất cả 36 cột, 4 mái lợp ngói âm dương. Đình gồm có sân ngoài, sân trong rồi đến tiền đường, chánh điện và hậu tẩm. Bên trái Đình có nhà hội hương dùng làm nơi hội họp, cất giữ vật dụng của Đình. Phía ngoài Đình là cổng Đình, kiến trúc theo lối tam quan có đắp nổi 2 trụ tiêu biểu hai bên cổng, cổng giữa có 1 tầng lầu và bên dưới đắp nổi 3 chữ: “Lỗ đình môn”.  Cùng với ngôi đình, Nhà thờ Tiền Hiền Lỗ Giáng cùng được xây dựng ngay bên cạnh để thờ quan Thánh Đế Quân và thờ Phật. Nay nhà thờ cũng là nơi để thờ các vị tiền hiền đã có công khai phá khẩn hoang lập nên làng Lỗ Giáng. Về mặt kiến trúc, nhà thờ Tiền Hiền Lỗ Giáng rất giống với Đình được xây dựng theo lối chữ Đinh hay còn gọi theo dân gian là hình chuôi vồ. Bố cục nhà thờ được chia thành ba gian gồm tiền đường, chánh diện và hậu tẩm

Đình làng và Nhà thờ Tiền Hiền Lỗ Giáng còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý như: một số bản phong sắc có niên đại từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại, 3 tấm biển vàng của 2 tộc Lâm, Phan 4 bia đá có ghi niên đại Bảo Đại thứ 7 (1932). Đặc biệt là tấm biển vàng do vua Khải Định sắc phong năm 1925 dòng chữ: “Mỹ tục khả gia”, thể hiện được thuần phong mỹ tục của người dân nơi đây.

Hiện nay, đình làng chỉ còn lại phần cổng tam quan và hậu tẩm, riêng nhà thờ Tiền hiền cạnh đó vẫn còn như nguyên vẹn. Theo nghiên cứu của các nhà sử học thì đình Lỗ Giáng có kiến trúc rất độc đáo và cả miền Trung chỉ có đình làng này là có nét kiến trúc như thế. Di tích này được xây dựng theo lối kiến trúc “ba gian, hai chái” và mái được lợp ngói âm dương. Trên mái đình và cổng tam quan được trang trí những hình tượng long, phượng và kỳ lân, dơi ngậm kim tiền… rất bay bướm và sống động.

Đình làng Lỗ Giáng, Hoà Xuân, Cẩm Lệ, Đà Nẵng

Đình làng Lỗ Giáng, Hoà Xuân, Cẩm Lệ, Đà Nẵng

Tại khu vực này, thành phố Đà Nẵng đang triển khai thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái Hòa Xuân. Đây là một dự án lớn của thành phố, có khối lượng đất, cát dùng để san ủi mặt bằng là rất lớn. Quá trình san ủi mặt bằng hoàn tất thì chắc chắn mặt đường mới sẽ cao hơn mặt nền đình Lỗ Giáng và nhà thờ Tiền hiền cạnh đó chừng 1,5 – 2m dễ gây sập đình. Để bảo tồn đình làng Lỗ Giáng, giải pháp hiện nay là sẽ nâng cổng tam quan, nhà thờ Tiền hiền lên ngang bằng với mặt đường của dự án và xây lại một ngôi đình mới. Tổng diện tích của đình làng mới sẽ là 22.500m2 và dự toán kinh phí là 12 tỷ đồng, đập bỏ khu hậu tẩm của đình làng vì đã xuống cấp nghiêm trọng và để không cân đối với công trình đình làng mới.

Một số quan điểm khác cho rằng,  những gì còn lại của đình làng Lỗ Giáng không nên đập bỏ đi vì bản thân chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và lịch sử. Hơn nữa khi xây dựng mới đình làng liệu rằng các nét kiến trúc nghệ thuật độc đáo có được bảo tồn nguyên vẹn. KDLST Hòa Xuân được hoàn tất thì đình làng và nhà Tiền hiền Lỗ Giáng sẽ là điểm thu hút khách du lịch quan trọng, vì vậy thành phố nên chọn một phương án thích hợp ngõ hầu bảo tồn nguyên vẹn kiến trúc của di tích độc đáo này. Đó cũng là cách chúng ta giữ lại những dấu tích người xưa.

Tháng Mười Một 15, 2008 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bắc địa tấu từ – Lời tâu về đất Bắc của những người đi khai khẩn đất Điện Bàn (Quảng Nam) dưới thời Lê sơ

Trong quá trình đi điền dã sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở làng Uất Lũy, huyện Điện Bàn (Quảng Nam – Đà Nẵng), chúng tôi tìm được một văn bản mang tên là “Bắc địa tấu từ”, có thể dịch là “Lời tâu về đất Bắc” (của những người đi khai khẩn đất Điện Bàn thời Lê sơ). Văn bản gồm 8 tờ khổ 28 x 24 cm, thuộc loại giấy “long chỉ”, là văn bản Hán có thêm vài chữ Nôm. Những trang nhiều chữ có 12 dòng, mỗi dòng 25 chữ. Bút viết là cọ tre nên nét chữ thô cứng, có phần giống nét chữ khắc trên đồng. Lối chữ bè theo chiều ngang và có xu hướng uốn cong lên theo hai đầu, lõm ở giữa, hơi ngoằn ngoèo, từa tựa lối chữ “bùa chú” của nhà chùa (Mật tông). Nền giấy in hình rồng, mây điểm chữ “thọ” và viền “khung triện”. Ngoài bản “long chỉ”, chúng tôi còn tìm được hai bản giấy thường chữ viết cọ tre, kiểu chữ nghiêng xuống về bên phải, nét chữ thô cứng, gãy góc theo lối hình học, nội dung không đầy đủ bằng bản “long chỉ” (nhưng trong đó có ghi thêm vị Nguyễn Công Lưu). Có lẽ đây là hai bản “tiền thân” của bản “long chỉ” nhưng được viết cách nhau không lâu.

Qua khảo sát văn bản cho thấy đây là những bản văn ra đời trong những năm 30 của thế kỷ XIX dưới triều Minh Mệnh (sau năm 1830 và trước năm 1841), nhưng nội dung chính của nó là được chép lại từ một văn bản (Tấu từ Thuận ước) lập thời Lê sơ, và có khả năng là dưới triều Hồng Đức (Lê Thánh Tông) và ở bản sao lại này có được bổ sung những địa danh mới xuất hiện vào thời Minh Mệnh thứ 12 (1831). Nội dung Bắc địa tấu từ (bản “long chỉ”) gồm 3 phần chính: I- Bắc địa tấu từ; II- Tông đồ hội tánh; và III – Thuận ước giáp tịch, trong đó phần Tông đồ hội tánh, về nguồn tư liệu gốc, có lẽ được bổ sung sau thời Hồng Đức. Toàn văn Bắc địa tấu từ (bản “long chỉ”) do hai người chép tạo thành hai nửa văn bản có nét chữ khác nhau: phần I khác với phần II, III. Điều này cũng phù hợp với nội dung của văn bản: phần Bắc địa tấu từ bao quát một phạm vi không gian rộng hơn, gần trọn huyện Điện Bàn, còn Tông đồ hội tánh Thuận ước giáp tịch đi vào cụ thể khu vực xã Châu Minh(1). Như vậy phần I là chép lại từ một văn bản chung đang lưu hành trong vùng, có liên quan đến những con người tại địa phương, hoặc đây là một trong số các bản “nhân bản” thuận ước giao cho mỗi làng lưu giữ (như nội dung Bắc địa tấu từ có nói rõ), và sau đó là phần chép về địa phương (phần II, III).

1. Phần Bắc địa tấu từ cho biết lúc bấy giờ có 24 vị thuộc 4 địa phương khác nhau trên đất bắc đã đi vào khai khẩn đất Điện Bàn theo lệnh của nhà vua.:

– Quê Thanh Hóa có 4 vị : Hữu đô thống phủ Công hậu phủ thân hầu phủ đô Đô công Hà Phước Hồ, Tả thống trấn phủ đô Đô khâm sai Đô tướng đốc sứ Hùng doanh trấn đô công Nguyễn Công Lưu, ông Ngô Hưng Khả, ông Huỳnh Vĩnh Nghiêm.

– Quê Hà Tĩnh có 3 vị: Trần Công Quân, Thân Văn Thống và Nguyễn Văn Chánh.

– Quê Hải Dương có 5 vị: Đỗ Như Hiển, Đoàn Thế Thân, Đinh Hựu Trân, Trịnh Hồ Xuyên, và Mai Quý Phô.

– Quê Cao Bằng (Bình) có 12 vị: Tả đô thống trấn phủ Đô thân hầu phủ đô thống Đô tướng công Phan Thanh Hà, ông Huỳnh Tiên Công, ông Tào Công Hảo, ông Đề Thắng Diệu, ông Hồ Đức Câu, ông Hà Ngọc Khánh, ông Hà Đức Hạt, ông Nguyễn Đình Hà, ông Mạc Văn Xảo, ông Tống Minh Hùng, ông Lê Thượng Nhứt, và ông Hà Văn Thụ.

Ngoài ra còn có 15 người vợ của các ông đi cùng.

Về kết quả khai khẩn văn bản viết:

“Cộng nhị thập tứ nhân (…) đồng hành nhập tại (…) Trấn Nam doanh, khai hiện cửu xã hiệu, hựu thất xã hiệu: Phong Đại xã nhất hiệu, Phong trung xã nhị hiệu, Ngọc Hoa xã tam hiệu, Châu Minh xã tứ hiệu, Phong niên xã ngũ hiệu, Khả Phong xã lục hiệu. Phụ tòng nhất bách thập nhất xã hiệu: Hạ Nông xã hiệu, Câu An xã hiệu, Câu Nhơn xã hiệu, Mỹ á xã hiệu, Đại Cuộc tam châu, Đông Phố xã hiệu, Quảng Hậu xã hiệu, Quảng Sa xã hiệu, Quảng Ninh xã hiệu, La Đức xã hiệu, Quảng Tuế (?) xã hiệu, Liên Giang xã hiệu. Cộng nhất bách thập bát hiệu. Điền địa nhất bách ngũ thập nhị khoảnh. Phân định xã hiệu: Nhất hiệu ngũ khoảnh, Nhị hiệu tứ khoảnh, Tam hiệu tam khoảnh, Tứ hiệu tam khoảnh, Ngũ hiệu tam khoảnh, Lục hiệu lục khoảnh. Cộng nhị thập tứ khoảnh. Tồn nhất bách nhị thập bát khoảnh phân bình nhất bách thập nhị xã hiệu đồng canh nhất thiên bát bách mẫu lĩnh. Lịch lập đào giang phóng thủy, khai lâm cấm. Dĩ khai phá tứ đình thiết đẳng hội tế (…) Dĩ ư thuận ước, mỗi xã đồng nhất bản kỷ chỉ hiệp giao …

Bách đội đại Vĩnh vĩnh lưu truyền tác chỉ hiệp giao giáp tịch.

Tư tấu !

Lê triều ất Hợi niên ngũ nguyệt thập nhị nhật.

(…) Tứ tỉnh Bắc nhập tại thổ quốc nhân cộng nhị thập tứ nhân đồng hiệu chiếu ký chỉ phụng lập (…).

Phụng thừa sao viễn viễn tôn thập lục thế tôn Hà Phước Hanh (?) …”

Dịch nghĩa:

“Tổng cộng gồm có 24 người (…) cùng đến (…) dinh Trấn Nam, và hiện tại đã khai phá được 9 tên, lại thêm 7 tên: Phong Đại, Phong Trung, Ngọc Hoa, Châu Minh, Phong Niên, Khả Phong … Cùng trong vùng có thêm 111 tên khác là: Hạ Nông, Câu An, Câu Nhơn, Mỹ á, Đại Cuộc (3 châu). Đông Phổ, Quảng Hậu, Quảng Sa, Quảng Ninh, La Đức, Quảng Tuế (?), Liên Giang v.v., cộng tất cả là 118 tên. Ruộng đất cả vùng gồm 152 khoảnh. Việc phân chia ruộng đất trong 6 tên (vùng trung tâm Điện Bàn) như sau: Phong Đại 5 khoảnh, Phong Trung 4 khoảnh, Ngọc Hoa 3 khoảnh, Châu Minh 3 khoảnh, Phong Niên 3 khoảnh, Khả Phong 6 khoảnh, cộng tất cả là 24 khoảnh. Còn 128 khoảnh kia phân cho 120 tên khác cầy cấy, gồm 1800 mẫu lẻ. Sau đó lập tức chúng tôi ra sức đốn chặt cây rậm, mở đường sông dẫn nước. Trên vùng đất đã khai phá, chúng tôi lập ra 4 ngôi đình dùng để sinh hoạt hội hè, tế lễ. Dựa vào những điều quy ước đã được chấp thuận, chúng tôi lập ra một bản thuận ước, ký chỉ đầy đủ và giao cho mỗi xã giữ một bản …

Mong đời đời mãi mãi truyền giữ những điều hiệp giao ký chỉ này.

Nay tâu !

Triều Lê năm ất Hợi (1455), ngày 12 tháng 5.

Số người từ 4 tỉnh phía Bắc di cư vào địa phương này là 24 người cùng lập giấy và ký chỉ …

Người cháu đời thứ 16 là Hà Phước Hanh (?) vâng lệnh sao lục…”

2. Phần Tông đồ hội tánh chép khái lược tông đồ phổ hệ tiên tổ sinh hạ của các ông Hà Phước Hồ, Nguyễn Văn Chánh, Mạc Văn Xảo, Huỳnh Tiên Công, Huỳnh Vĩnh Nghiêm , Trần Công Quân và Đoàn Thế Thân. Có lẽ ở đây người ta chỉ chép tông đồ những vị (tộc) còn con cháu lưu hạ tại xã Châu Minh. Phần này chiếm 2 tờ, nhưng chỉ có tên người nên xin không trích dẫn.

3. Phần Thuận ước giáp tịch chép nội dung thuận ước thừa nhận chung của xã trưởng và đại diện nhân dân trong xã Châu Minh, trong đó có đoạn viết “Tam danh lập xã hiệu Châu Minh xã địa bộ” là Tào Công Minh, Ngô Hưng Lạp (?) và Nguyễn Phước Trung và ở đoạn cuối văn bản chép:

“Lê Thánh Tông Quý Hợi niên, Nguyễn Phước Trung, Tào Công Minh, Hà Phước Dương, Hà Ngọc Cách, Đoàn Thế Đàm, Đỗ Như Ân, Hà Đức Kê, bát nhân khai địa, lập đình sở (…). Điền địa tam khoảnh lập đồng canh, lập tự điền, ước bách mẫu linh. Định xã hiệu, khai điền kiến bộ, đạc vi bạn, lập đào giang phóng thủy, kiến lập đề bạn hạn, lệ tịch định, lập thuận ước. Nguyễn Phước Trung, xã trưởng Đàm, chấp tịch Dương, lãnh công Cách, giáp sai Kế tác chỉ giáp tịch.

Tào Công Minh điểm chỉ.

Ngô Hưng Lạp (?) điểm chỉ.

Nguyễn Phước Trung điểm chỉ.

Chấp tịch Hà Phước Dương điểm chỉ.

Hà Ngọc Cách điểm chỉ.

Xã trưởng Đoàn Thế Đàm điểm chỉ.

Đầu sự Đỗ Như Ân điểm chỉ.

Giáp sai Hà Đức Kế điểm chỉ.

Thuận ước giáp tịch”

Xin dịch đoạn đầu:

“Lê Thánh Tông, năm Quý Hợi(2). Chúng tôi gồm: Nguyễn Phước Trung, Tào Công Minh, Hà Phước Dương, Hà Ngọc Cách, Đoàn Thế Đàm, Đỗ Như Ân, Hà Đức Kế, (Ngô Hưng Lạp) cả thảy 8 người cùng tham gia khẩn đất, lập đình sở (…). Đất đai khai phá được cả thảy là 3 khoảnh dùng để canh tác và đặt ruộng thờ cúng, có tất cả khoảng 100 mẫu lẻ. Chúng tôi cùng đặt ra tên (Châu Minh), kê khai ruộng đất lập địa bạ, đo đạc bờ bạn, đào sông dẫn nước, dựng đặt mốc giới, định điều lệ ghi vào sổ sách, lập ra quy ước. Trong đó Nguyễn Phước Trung, xã trưởng Đàm, Chấp tịch Dương, Lãnh công Cách và Giáp sai Kế cùng đứng ra lập văn bản thuận ước này”. (Đoạn sau là phần ký và điểm chỉ của 8 ông: Tào Công Minh, Ngô Hưng Lạp (?), Nguyễn Phước Trung, Hà Phước Dương, Hà Ngọc Cách, Đoàn Thế Đàm, Đỗ Như Ân, Hà Đức Kế (3) ).

* * *

Qua nội dung cho thấy Bắc địa tấu từ vốn là những điều thuận định kê khai, phúc trình của những người đi khai phá đất Điện Bàn và xã Châu Minh thời Lê để gửi lên chính quyền cấp trên, đồng thời cũng là những điều thuận ước xác nhận, kể rõ các việc đã làm của những người Việt tiền phong trên vùng đất này hồi đầu thế kỷ XV, về sau nó đã trở thành tư liệu lịch sử, lịch sử lập làng, trở thành “hành trạng” của các vị Tiền hiền khai khẩn tại địa phương, trở thành “thần tích” ở đình. Theo ghi chú dặn dò được chép trong văn bản có nói là phải “niêm trong bọc ngoài” cẩn thận (bì niêm ngoại bao) và “từ nay về sau không được mở xem cái bì trong” (tự hậu bất khả khán bì trong)(4). Chính nhờ tính chất “Thần bí” này mà Bắc địa tấu từ đã được giữ gìn cẩn thận, trải qua bao năm chiến tranh, và ngày nay chúng ta có được một tư liệu để nghiên cứu về lịch sử khai khẩn Quảng nam, về tổ chức làng xã ở miền Trung ngày trước, về tín ngưỡng Tiền hiền ở vùng đất phương Nam v.v.

HUỲNH CÔNG BÁ 26/9/96
Người biên tập: Mai Xuân Hải

CHÚ THÍCH

(1). Trong Ô Châu cận lục (1553), Dương Văn An có chép một tên xã ở huyện Điện bàn là xã Minh Châu.

(2). Có lẽ là năm Kỷ Hợi (1479), vì dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông không có năm Quý Hợi.

(3). Đối chiếu với “Tông đồ hội tánh”, các ông này là con cháu của các ông có tên chép ở phần I.

(4). Trong văn bản có 3 chữ “Cái bì trong” được viết bằng chữ Nôm: ***.

 (Tạp chí Hán Nôm 4/1996, www.hannom.org.vn)

Tháng Mười Một 1, 2008 Posted by | 5. Đất và Người | %(count) bình luận

Lịch sử hình thành các Dòng họ Quảng Nam

Sau bài “Trăm năm Mỹ sơn, nhìn lại” chúng tôi nhận được có nhiều ý kiến từ ủng hộ cho đến phản ứng gay gắt, cảm thấy như bị xúc phạm khi nói rằng người xứ Ðàng Trong có ít nhất 50% huyết thống về dân tộc Chàm. Mọi chuyện tất nhiên không thể giải quyết bằng một bài báo, nó cần thời gian với sự công phu không thể của một người. Ở đây xin được trao đổi những điều cần phải nói thêm cho rõ.

Có một thực tế diễn ra dưới thời các vua Nguyễn là: Sau những năm dài chiến tranh, loạn lạc (200 năm phân tranh Trịnh-Nguyễn rồi cuộc nỗi dậy của nhà Tây Sơn, chiến tranh giữa chúa Nguyễn với Tây Sơn, Tây Sơn với những cuộc bắc tiến và với nhà Thanh), làng xóm trở lại cảnh thanh bình. Những lễ tục được phục hồi, các dòng họ cũng bắt đầu chú ý đến gốc gác, phổ hệ. Một phong trào viết gia phả nỗi lên khắp nơi, phát sinh môt sự tranh dành tộc to, họ lớn; tranh nhau tiền hiền khai canh, lập ấp. Ai cũng muốn mình là người đầu tiên đặt chân lên mảnh đất làng nầy từ 1471 nên số đông các gia phả Quảng Nam đều ghi: Ngài (Họ) Quý Công đã theo vua Lê Thánh Tông bình Chiêm năm Hồng Ðức nhị niên định cư ở lại làng…từ thời đó. Nhưng số thứ tự các đời thì thường là điều không thể tùy tiện mà dựng nên được. Chính vì thế các gia phả nầy để lộ ra những mâu thuẩn khó có thể trả lời. Sau những thống kê các gia phả học đều thống nhất ở Việt Nam ta mỗi thế hệ trung bình là 23,5 năm (Phương Tây là 25 năm). Vì vậy cứ nhân số thứ tự của đời hiện nay với 23,5 năm, ta có thể tạm biết vị đệ nhất thế tổ ấy đến Quảng Nam vào năm nào. Ví dụ như gia phả họ Huỳnh (Hoàng) làng Xuân Ðài (Ðiện Bàn Quảng Nam) ghi rằng:” Niên hiệu Hồng Ðức năm thứ 30 (thực ra là Hồng Ðức nhị niên) đánh lấy Chiêm Thành mới đặt ra Quảng Nam đạo thừa tuyên và ông Thỉ tổ của chúng ta (người tỉnh Hải Dương) di cư vào Nam từ thuở đó…lập nên cơ nghiệp lưu hạ đến nay đã hơn 10 đời.” Gia phả này viết năm Tự Ðức 34, tức 1881, lui về trước 10 đời tức là 235 năm, vậy ông Thỉ tổ dòng họ này vào Quảng nam khoảng năm 1646, cách Lê Thánh Tông bình Chiêm đến 175 năm, tức hơn 7 thế hệ! Rõ ràng họ Huỳnh làng Xuân Ðài khó có thể phản đối lập luận này. Con số 1646 của họ Huỳnh cũng là một con số khá lý thú và chúng ta sẽ trở lại con số này một lần nữa sau này.

Trước nay chúng ta thường nghĩ rằng lịch sử Nam tiến của người Việt Nam trải dài suốt từ thời nhà Lý đến các vua Nguyễn; các năm 1306, 1471 chỉ là những cột mốc đánh dấu cái dòng chảy rất đều, không ngừng nghỉ của các đoàn người Nam tiến. Thực ra nếu nhìn kỹ vào từng giai đoạn ta sẽ thấy cái dòng chảy ấy không đều như ta nghĩ. Nó có những lúc dữ dội để chiếm hữu, lúc lắng lại để định hình, lúc thì nếp ăn nếp ở ngôn ngữ phong tục thiên về Chàm, lúc thì chuyển hẳn sang Việt. Ở đây chúng tôi thử đưa ra một cách phân kỳ để thử xác định mỗi giai đoạn có gì khác nhau. Dĩ nhiên sẽ có người không đồng ý, có cách phân kỳ khác, nhưng như thế cũng không hẳn là nó không cần thiết để thử một lần.

1. Trước 1306 những ấn tượng về nhau.

Trước 1306, khi địa giới còn ở ngoài đèo Ngang, thì người Việt cũng đã nhiều lần đặt chân lên vùng đất phiá Nam Hải Vân này.

Trước thế kỷ 10 kinh đô Chiêm Thành là vùng Trà Kiệu, thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam hiện nay. Giai đoạn này về trước Chiêm Thành là một quốc gia hùng mạnh, họ nhiều lần đánh ra bắc đèo Ngang, lúc này thuộc nhà Ðường, và dĩ nhiên bắt rất nhiều tù binh người Việt mang về. Ít nhiều những tù binh này tạo được một cái nhìn quen thuộc cho những cư dân Chiêm vùng kinh thành và điều này sẽ khiến người lao động Chiêm Thành, tức những dân quê ít học, ít quan tâm đến chính trị không cảm thấy quá sợ hãi khi những đại quân Việt kéo đến sau này. Thậm chí ngay từ đầu những năm lập quốc của quốc gia Chiêm Thành, một người Giao Châu (Việt?) là Phạm Văn đã làm vua xứ này và tạo thành một vương triều thứ hai kéo dài gần 100 năm. Phạm Văn vốn người Giao Châu (lúc này thuộc Ðường) có cơ hội sang Trung Quốc học hỏi nên lúc về Lâm Ấp đã giúp vua Lâm Ấp là Phạm Dật xây dựng cung điện, làm thành trì và khi Phạm Dật chết thì Phạm Văn tự xưng lên làm vua Chiêm Thành. Quả thực trong mắt của người Việt thì người Chiêm xa lạ, khó hiểu hơn nhiều so với người Chiêm nhìn người Việt. Ðiều này cũng dễ hiểu bởi bản sắc văn hoá của hai dân tộc, trong khi người Chăm vùng Quảng Nam nay quá đậm nét văn hoá Ấn Ðo với những vị thần khó hiểu thì người Việt vùng Thanh- Nghệ lúc thuộc Ðường còn khá mờ nhạt nét văn hóa Trung Hoa, đời sống tâm linh khá hiền lành, đơn giản. Chính điều này sẽ khiến người Việt sau này (sau 1401) khi vào sống cạnh người Chiêm họ sẽ không gây cho người Chiêm những khó chịu, những áp lực tâm lý đến mức không thể chung sống mà phải bỏ đi.

Và khi Lê Ðại Hành (Lê Hoàn) lên ngôi rồi đem quân đánh Chiêm lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, năm 982 ông cũng đã đem quân vào đến kinh đô Chiêm Thành lúc này là Ðồng Dương (huyện Thanh Bình ngày nay) đóng quân ở đó một năm mới trở ra. Thậm chí một vị quan quản giáp của Lê Ðại Hành là Lưu Kế Tông đã trốn ở lại khi đại quân kéo về rồi tự xưng làm vua nước Chiêm Thành cai trị vùng đất miền bắc nước này. Sau cuộc thất bại này người Chiêm dời kinh đô vào Ðồ Bàn. Bao nhiêu binh lính người Việt cùng với Lưu Kế Tông ở lại sau sự kiện 982? Một năm đóng quân ở đất này chuyện gì xảy ra giữa hàng vạn binh lính và dân Chiêm bản xứ? Lưu Kế Tông làm vua có tạo ra một sự ưu đãi nào đó cho những người Việt Kiều?

Năm 1020 Lý thái Tổ cử người đi đánh Chiêm Thành nhưng chỉ đến Bố Chính, Quảng Bình ngày nay. Năm 1044 Lý Thái Tông dẫn 12 vạn quân đánh thẳng vào đến sông Thu Bồn, chém đầu vua Chiêm là Sạ Ðẩu ở đây rồi dẫn đại quân về Ðồ Bàn, cho sứ đi khắp các nơi vỗ yên, phủ dụ dân chúng Chiêm Thành. Tầng lớp thượng lưu, giáo sĩ, chính trị hẳn đã bị chú ý thu gom, trừng phạt nhưng đa số dân trong các xóm làng là đối tượng của các cuộc phủ dụ này. Năm 1069 Lý Thánh Tông phạt Chiêm lần thứ hai, bắt vua Chiêm là Chế Củ giải về Thăng Long. Chế Củ phải xin dâng ba châu Bố Chính, Ðịa Lý, Ma Linh để được tha. Biên giới Ðại Việt lúc này là Quảng Bình và một phần Quảng Trị bây giờ.

Từ đó đến 1306, tức 237 năm, không có cuộc tiến đánh nào của người Việt. Một phần do hợp tác đối phó với nhà Nguyên nên mối quan hệ Việt Chiêm khá tốt, thậm chí vua Trần Nhân tông đã vân du, một chuyến du lịch đến Chiêm Thành, lúc hữu hảo đã vui miệng , hay thực sự kính trọng vua Chiêm, hứa gả công chúa Huyền trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Chiêm dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ. Nhiều người cho rằng hai châu này thực ra đã thuộc về Việt. 237 năm không chiến tranh (thực ra là có nhưng chỉ là những cuộc cướp bóc của những toán thổ phỉ, cướp biển mà người Chiêm thời nào cũng có, thâm chí ở biển Ðông và vịnh Thái Lan bây giờ cũng không thiếu) đủ sức, đủ thời gian để người Việt lấn dần từng bước dưới sự hổ trợ của những người Việt vào trước như đã nói. Cái sự dâng hai châu Ô, Lý của Chế Mân để lấy được một người đẹp là chuyện lịch sử nhân loại ít thấy. Tuy vậy ta vẫn có thể hiểu được hành động này qua trường hợp tương tự của Mạc Ðăng Dung khi cổ buộc dây thừng, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ quân Minh xin hàng và dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù. Thực ra theo “Ðại Việt Ðịa Dư Toàn Biên” thì 6 động ấy chưa bao giờ thuộc về Việt, năm Tuyên Ðức thứ 2 người các động ấy làm phản, về với Giao Chỉ. Nay nhà Mạclấy đất của họ mà trả cho họ, đó là một động tác chính trị và nhà Minh cũng chỉ cần cái danh ấy để không phải động binh lúc này đang rất khó khăn với quân Thanh. Chế Mân hẳn biết rằng so sánh tương quan lực lượng sẽ không bao giờ giữ được Ô, Lý nữa chi bằng làm thế để tăng mối hòa hiếu may ra giữ yên được vùng đồng bằng Quảng Ngãi trở vào trù phú hơn nhiều so với vùng Thừa Thiên, Quảng Trị.

II. 1306-1402 GIAI ÐOẠN TIỀN ÐỀ:

Nhưng lịch sử không như Chế Mân nghĩ, chỉ một năm sau, vụ giải thoát công chúa Huyền Trân đã khiến người Chiêm nổi giận, họ liên tục quậy phá vùng biên giới đến mức 5 năm sau ngày cưới, vua Trần Anh Tông đã thân chinh chiếm đánh Chiêm Thành. Toàn bộ Chiêm Thành trở thành một Châu của Ðại Việt. Vua nhà Nguyên phản đối nhưng vua Trần vẫn tự cho mình có quyền tông chủ đô hộ trên đất Chiêm Thành, và cũng làm nhiệm vụ là một tông chủ thật sự: năm 1313 Tiêm La lấn cướp Chiêm Thành vua Anh Tông cử người đem binh đi ứng cứu Chiêm Thành. Nửa sau thế kỷ 14 này thì Chiêm Thành phát triển cực mạnh và họ đẩy các cuộc giao chiến ra đến tận vùng sông Mã Thanh Hóa.

Không thể tìm thấy một sử liệu nào nói về chuyện người Việt đến ở vùng đất Quảng Nam nay,tức nam Hải Vân, trong suốt giai đoạn 100 năm này (1306-1402). Chỉ qua các mối quan hệ của chính quyền hai nước được sử ghi lại chúng ta ít nhiều nghĩ rằng giai đoạn này dầu sao cũng vẫn có các nhóm tù binh Việt đã có mặt nơi này, nhất là giai đoạn 30 năm dưới thời Chế Bồng Nga(1360-1390). Giai đoạn này nếu có những người Việt sinh sống ở đây thì chắc chắn mọi nếp sống, sinh hoạt của họ đều phải theo Chàm. Giai đoạnb này chủ yếu là sự định hình đi vào ổn định vùng Thanh Hóa, bắc Hải Vân. Sau cái chết của Chế Bồng Nga, Chiêm Thành loạn lạc. Hồ Qúy Ly đem quân tiến đánh và chúa Chiêm là Ba Ðích Lại xin dâng Chiêm Ðộng, trọn tỉnh Quảng Nam ngày nay cho Ðại Việt. Hồ Qúy Ly bắt ép phải dâng nộp cả động Cổ Lũy, trọn tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Nhà Hồ chia đất ấy thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đặt người cai trị.

Giai đoạn này có một số sự kiện đáng chú ý nếu muốn từ đó lần ra các mối quan hệ để có thể giải thích được ít nhiều các vấn đề thiếu cứ liệu sau này:

1/ Người Chiêm Thành nào đi thì cho đi. Người ở lại thì bổ làm quan (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm 1402- SKTT 1402).

2/ Mộ người có của ở Hội An, Thuận Hóa vào khai khẩn với một chính sách rất ưu đãi nhưng vô cùng nghiêm khắc, buộc phải thích tên châu nơi đến vào cánh tay để xem như không còn đường rút về. Năm sau cho thuyền chở vợ con đi theo nhưng giữa đường bị bão đánh chìm. Tất cả đều chết. (SKTT 1403)

3/ Người Chiêm Thành không có họ. Ai có họ là người Việt đến sau. (Việt sử xứ Ðàng Trong của Phan Khoang, trang 89. Chưa rõ Phan Khoang dẫn ở đâu)

4/ Ngoại trừ một số họ Chiêm ghi theo âm Hán đọc thành Phan, Phạm, Ðặng thì Hồ Qúy Ly còn ban cho họ Ðinh với một số người Chiêm hàng phục. (SKTT 1397)

Những sự liệu này cho thấy cái quan điểm cho rằng khi Việt đến thì ngưới Chiêm rút đi hòan toàn là không đúng. Không có chuyện chém giết đến không còn một người ở đây, thậm chí trong toàn bộ lịch sử. Ai đi thì cho đi, ai ở thì bổ làm quan. Dĩ nhiên những làng chài, làng nông nghiệp ít học là cái mà các sử quan thường cho là hạ nhân thì không bàn đến. Người Chiêm Thành không có họ, ai có họ là dân Việt mới đến sau cho thấy cái hình ảnh xã hội lúc ấy. Có nghĩa là không có vấn đề gì lớn đối với chuyện những làng Việt sống cạnh những làng Chiêm, không có mối thâm thù nào lớn giữa người Chiêm và người Việt. Thậm chí một tướng Việt là Nguyễn Rỗ cai trị người Chiêm nhưng khi nhà Hồ tan, Nguyễn Rỗ mâu thuẫn nội bộ dẫn quân và gia quyến sang Chiêm Thành, Chiêm Thành vẫn cho Rỗ làm quan to. Ðiều này nó chứng tỏ khi người Chiêm chiếm trở lại đất trước đó người Việt di dân đến họ cũng không xua đuổi những Việt Kiều này. Chiếu bình Chiêm của Lê Thánh Tông sau này có nêu lý do”đàn ông, đàn bà của ta nó bắt làm nô lệ; tù nhân , phạm nhân của ta nó hết thảy bao dung…” thì ta hiểu đó chỉ là một lý do, nhưng ngay cả trong trường hợp đó là sự thật đi nữa thì sự bao dung của Chiêm Thành đối với kẻ tù nhân, phạm nhân Ðại Việt vẫn cho ta thấy người Việt sống ở vùng này không đến nổi bị bài xích xua đuổi cho lắm.

Sau này,sau 1471, vua Lê Thánh Tông cũng lại có một sắc chỉ về việc xét họ tên với bọn người Chiêm. Và đến một lúc những người Chiêm không có họ ấy bắt buộc phải mang một họ nào đó là Ðinh, Lê, Lý, Trần, Phan, Nguyễn… để vào sổ hộ tịch lại là một chuyện quan trọng nữa mà chúng ta cần phải bàn đến.

III. 1402-1471 ÐÃ XẢY RA QUÁ TRÌNH CHĂM HÓA RỒI SAU ÐÓ MỚI VIỆT HÓA.

Có thể nói rằng sau 1402 với những cuộc di dân rầm rộ dưới triều Hồ Hán Thương vùng Quảng Nam nay, người Việt đã đến ở và không phải bỏ chạy vì những cuộc phản công đòi đất trở lại của Chiêm Thành khi quân Minh đến hổ trợ cho Chiêm Thành lấy lại đất cũ. Chính quyền Chiêm Thành lấn ra trở lại tới vùng Thuận Hóa (bắc Hải Vân) dưới thời thuộc Minh, dân Chiêm số người bỏ đi cũng trở lại quê hương bản quán, nhưng các di dân Việt đã vào không phải vì thế mà bỏ đi. SKTT chép “Ðến khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ dân di cư sợ chạy tan cả”. Tất nhiên là như vậy rồi nhưng ngược lại, trường hợp Nguyễn Rỗ được Chiêm cho làm quan to cho phép ta hình dung tình hình không đến nổi khó khăn lắm đối với các Việt kiều, mặc dù Nguyễn Rỗ đã từng cai trị họ. Gia phả họ Hồ ở Cẩm Sa, Ðiện Nam, Ðiện Bàn là một ví dụ. Gia phả này đã chép được vị thủy tổ dòng họ này đã vào Quảng Nam từ thời đó, dưới triều Hồ Hán Thương. Con cháu đến nay cũng đã đến đời thứ 25-26. Ðây có phải là một trường hợp đặc biệt? Những cuộc điều tra là không khó và chúng tôi tin rằng đây không phải là trường hợp duy nhất.

Suốt từ đó, 1402, cho đến 1446 thì Nam Hải vân hoàn toàn dưới sự cai trị của người Chiêm, vùng chịu nhiều cảnh binh đao là Hóa Châu, vùng Quảng Trị-Thừa Thiên ngày nay. 44 năm yên bình đối với vùng Quảng Nam. 44 năm hoàn toàn không có những di dân mới. Ðã có hai thế hệ người Việt lớn lên bên cạnh người Chiêm, những cuộc hôn nhân giữa hai dân tộc chắc chắn là nguồn mối của sự tồn tại. Những người Việt có thể phải nói tiếng Chiêm ngoài xã hội nhưng trong gia đình những con dâu, con rể người Chiêm có thể cũng phải nói tiếng Việt. Người Việt nói tiếng Chiêm không thể giống như người Chiêm và dĩ nhiên người Chiêm nói tiếng Việt cũng chẳng giống như người Việt vùng Thanh Hóa- Nghệ An. Dĩ nhiên giai đoạn này tiếng Chiêm là ngôn ngữ chính thống của vùng này. Ðến 1446 thì quân đại Việt đánh một trận lớn đến tận Chà Bàn (Quy Nhơn), bắt vua Chiêm là Bí Cai về Thăng Long. Vua Lê Nhân Tông là một ông vua nhân từ, bao nhiêu tù binh ông đều thả sau khi làm lễ cáo thắng trận ở Thái Miếu. Chính sự bao dung của Lê Nhân Tông trở thành điều quyết định cho số người Chiêm không chọn con đường di tản sau 1471 là đáng kể.

Giai đoạn 70 năm, 1402-1471 này là một giai đoạn lý thú đối với sự tiếp biến văn hóa Chàm Việt. Nếu 44 năm đầu ở đây diễn ra quá trình Chàm hóa số người Việt đã đến dưới thời nhà Hồ thì 25 năm cuối quá trình Việt hóa diễn ra trên cơ sở hỗ trợ của những Việt kiều vào trước. Chúng tôi nghĩ rằng chính nhờ giai đoạn chuyển tiếp này đã không tạo nên một cú sốc tâm lý đối với những người Chàm ở vùng này. Xin nhắc lại là lúc ấy kinh đô đã ở tận Chà Bàn, Quy Nhơn nay, những người Chàm ở lại vùng Quảng Nam sau khi kinh đô chuyển đi xa như thế hẳn chỉ là những xóm làng chài lưới, nông nghiệp không quan tâm lắm đến chính trị. Cuộc tiến đánh sử chép khá hiền lành năm 1446 có lẽ không gây nên một cú sốc khiến họ phải tất cả cuốn gói ra đi. Ðây là một tiền đề để những di dân sau 1471 đến vùng này không phải là đến vùng đất trắng không bóng người. Ðó là những giả định nhưng quả thật khó mà hình dung mọi chuyện khác đi. Với thời gian chắc chắn rằng sẽ không khó để tìm đủ được những chứng cứ để chứng minh cho những giả định ấy. Tác giả Bình Nguyên Lộc không phải là không có cơ sở khi viết công trình “Nguồn gốc Mã Lai của người Việt”. Chúng tôi nhận thấy ở đó thực sự có những bằng chứng thuyết phục, ít ra là xứ Ðàng Trong chứ không phải cả nước Việt nam như Bình Nguyên Lộc cố chứng minh. Thậm chí những cuộc hôn nhân chồng Việt vợ Chàm giai đoạn này rất phổ biến, phổ biến đến mức 1499 SKTT chép rằng: ” Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ (chiếu dụ tháng 8 ngày 9 năm Cảnh Thống thứ 2)”. Dĩ nhiên lấy đó làm bằng chứng không lấy vợ Chàm thì thật ngớ ngẩn, đó chẳng qua là vì người ta lấy vợ Chàm quá nhiều, thành phong trào từ thân vương đến dân đen, nên mới có cái chiếu dụ như thế, để cho phong tục được thuần hậu!

IV. 1471-1671, 200 NĂM CỦA NHỮNG LÀN SÓNG DI DÂN, NGƯỜI CHĂM Ở LẠI HAY RA ÐI?

Ðến năm 1471, cái mốc quan trọng và dứt khoát để chấm dứt những cuộc giằng co, lấn qua lấn lại giữa Việt và Chiêm thì những cuộc di dân là không thể kiểm soát được nữa. Ngoài số sắc chỉ năm 1476 quy định “tội nhân bị tội lưu đày ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa, những kẻ được tha tội chết thì sung quân vệ Hoài Nhân”, chúng ta còn hiểu rằng những năm mất mùa đói kém nhân dân từ Thanh Hóa trở vào cũng sẵn sàng lên đường vào Nam, vụ đại hạn mất mùa từ Nghệ An ra Bắc năm 1608 là một ví dụ. Hình tượng ông Ba Bị có lẽ hình thjành trong giai đoạn này. Sách” Phủ Tập Quảng Nam Ký Sự” , viết vào thế kỷ 16 có nói quân của Bùi Tá Hán nhận lệnh diệt quân mạc ở Cổ Lũy, ông dẫn quân vào cho nghỉ ở cù lao Ré rồi giả làm đoàn người di cư, lén đổ bộ lên bờ và tấn công. Như thế ta hiểu là những đoàn người di cư vào năm 1545 ấy là đông đúc đến dường nào, nó đủ sức để một đạo quân cải trang lẩn trong ấy.

Những cuộc di dân như thế kéo dài được cho đến năm 1631, năm chuá Nguyễn cho xây lũy Trường Dực, chính thức chia đôi Nam Bắc, có nghĩa không còn di dân tự do. Những dòng họ nào di dân vào giai đoạn này cho đến nay đều có số đời từ 15 (1631) cho đến 21 (1471). Ðiều này cũng đúng với thực tế đối với đa số các gia phả ở Quảng Nam bây giờ. Những gia phả có số đời ít hơn đều có vấn đề để nói và chúng ta sẽ bàn đến kỹ hơn. Ðiều quan trọng nhất cần nhấn mạnh ở giai đoạn này là số lượng người Chàm ở lại là nhiều hay ít? 100 năm sau khi Lê Thánh Tông bình Chiêm, sách”Ô châu cận lục” mô tả vùng Quảng Nam-Thừa Thiên ngày nay: nói tiếng Chiêm có thổ dân làng La Giang, mặc áo Chiêm có con gái làng Thủy Bạn, nhiều xã còn giữ thói dâm phong mây mưa, thói quen cổ truyền cũng đã lâu lắm. Sách”Phủ Tập Quảng Nam ký sự” đã nói kể chuyện ông Bùi Tá Hán trong những năm 1545-1568 có những chính sách với người Chiêm như: lập ở vùng biên giới Tuy Hòa nay, ba đồn lớn ở đó lập ba nơi giao dịch cho phép người Kinh-Chàm mang các thứ tới đây buôn bán. Người Chàm nếu có ai ra vào cửa khẩu vùng biên để thăm bà con thân thuộc thì đều phải trình báo rõ ngày giờ với các quan đồn. Ðiều này cùng với mô tả trong” Ô châu cận lục ” cho thấy khu vực người Chiêm còn ở lại là khá rộng, trải từ Quảng Bình tới Phú Yên, Tuy Hòa. Dĩ nhiên tình hình bây giờ không còn giống như hồi 1402-1471, họ buộc phải nói tiếng Việt khi giao tiếp ngoài xã hội. Ðó có phải là tiền đề của giọng người Quảng Nam bây giờ như giáo sư Trần Quốc Vương nói? Số lượng họ là bao nhiêu? Nhiều hay ít? Họ chuyển thành Việt như thế nào? Không ai biết nhưng có một số điều khiến ta có thể nghĩ rằng họ rất nhiều chứ không phải là thưa thớt như lâu nay ta nghĩ.

1/. Người Việt thời ấy ở ngoài bắc ăn bận như thế nào ta có thể hiểu được khá rõ qua các sắc chỉ về ăn bận của các triều vua mà SKTT ghi lại khá rõ. Nhưng ăn bận như Cristophoro Borri mô tả trong “Xứ Ðàng Trong năm 1621”: Phụ nữ mặc tới 5,6 váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia, và tất cả có màu sắc khác nhau. Ðàn ông thì quàng một tấm rồi cũng thêm 5 hay 6 áo dài thì quả thật rất khó hiểu, khó hình dung. Trong khi đó y phục của các văn nhân, tiến sĩ và quan lại thì rất quen thuộc và dễ hiểu như: họ choàng lên trên tất cả một áo dài đen. Họ còn khoác lên vai một thứ khăn. Vậy những tấm váy dân lao động mặc kia là ở đâu ra vậy? Bùi tá Hán cũng có một sắc lệnh cấm phụ nữ mặc quần không đáy nhưng đến thời Borri vẫn thế cho thấy lệnh ấy không hiệu quả mấy. Và ở “Ô châu cận lục” ở chương Tổng luận về phong tục, mục huyện Diện Bàn cũng mô tả thật trùng khớp với Cristophoro Borri:” phụ nữ thì để tóc xỏa xuống vai, có người để tóc dài chấm đất, càng dài càng được coi là đẹp. Ðàn ông cũng để tóc dài như đàn bà, cho xỏa tóc tới gót chân và cũng đội nón.” Người ngoài Bắc không thế.

Thậm chí đến cuối thế kỷ thứ 18, qua các bức vẽ của người phương Tây vẽ một nhóm người An Nam ở Ðà Nẵng ta còn nhận ra y phục của người Ðàng trong rất giống với những gì bây giờ người Chàm, Ninh Thuận đang mặc. Có thể kết luận được không rằng:” số lượng người Chàm ở lại đông đến mức đủ sức áp đặt những thói quen ăn mặc, sinh hoạt, giọng nói cho những di dân mới đến?”

Thậm chí chúng tôi còn ngờ rằng đây không phải chỉ đơn thuần là sự tiếp thu cái mới của người Việt như một số người bảo vệ quan điểm cho rằng người Việt chỉ tiếp thu một số yếu tố văn hóa của người Chàm ngoài ra không có gì khác.( Ngay cách này cũng bộc lộ mâu thuẫn: con người ta không thể tiếp thu cái gì ở chỗ trống không, người Việt không thể tiếp thu bất cứ điều gì nếu người Chàm đều bỏ đi cả, hoặc giả cứ gặp họ là đuổi đánh, mà cái tiếp thu dược thì nhiều lắm. Vậy những làng người Chàm ấy biến đi đâu?), mà đó là những cộng đồng người Chàm nguyên vẹn 100% chỉ có điều họ không nói tiếng Chàm. Người Việt đến chỉ là số nhỏ, nhưng có quyền lực hòa nhập trong đó. Dĩ nhiên cái tỷ lệ số lượng Chàm – Việt ấy nó không đồng đều, giống nhau từ vùng quê Trung Du, xứ biển làng chài với các khu thị tứ, dinh trấn, bến cảng. Ðọc sử, đọc những ghi chép đương thời đều chỉ thấy người Việt. Những vùng quê như Tiên Phước, Ðại Lộc, Quế Sơn…(những nơi có di tích Chàm) mọi chuyện có thể diễn ra một cách lặng lẽ, không tư liệu nào chép lại, nhưng dữ dội hơn nhiều. Sự tích tháp Bằng An là một ví dụ: Người Việt và người Chàm tranh đất, sau khi đã thỏa thuận nhất trí tổ chức một cuộc thi xây tháp trong một đêm, ai thua phải đi nơi khác. Người Chàm xây bằng gạch thật, người Việt làm một tháp bằng tre bồi giấy và đã thắng. Chúng tôi cũng đã đọc được một bản “Bắc địa tấu từ”, một bản tâu gởi triều đình năm Lê triều Ất Hợi, 1455, kể chuyện xây tháp giành đất khiến hơn 3300 người Chàm (cổ thổ nhơn) phải bỏ chạy vào núi. Tháp Bằng An được xây dựng từ năm 977 nên khó mà biết được hư thực bản tấu ấy như thế nào nhưng qua đó và một số bản tấu khác trong giai đoạn này (1446-1471) nó phản ảnh được cái điều là người Việt lấn đất không phải bằng gươm giáo, ít ra là trên chính thống. Vậy những làng người Chàm, cứ cho là họ bị đuổi lên vùng trung du, thì sau này họ biến đi đâu? Và cái chiếu dụ tháng 8 ngày 9 năm Cảnh Thống thứ 2 ấy không lẽ làm ra để cấm cái chuyện không có?

Có người không đồng ý với ý kiến cho rằng vùng đất Quảng Nam từ 1306 đến 1602, năm Nguyễn Hoàng cho xây ở bờ bắc sông Thu Bồn dinh trấn Thanh Chiêm, là có tròn 300 năm không chính phủ, là 300 năm giao lưu văn hóa Việt – Chàm để hình thành nên tính cách người Quảng Nam. Bằng chứng đưa ra là lúc nào cũng có các quan trấn thủ của nhà Lê ở xứ nầy như Bùi Tá Hán. Chúng tôi không phản đối nhưng nghĩ rằng cần phải phân kỳ ra trước 1471 và sau 1471 lúc có các quan trấn thủ thì quyền lực của quan trấn thủ e cũng không được rộng khắp cho lắm. Ở Quảng Nam giỏi lắm là vùng Ðiện Bàn, Thăng Bình khu vực dọc theo sông Trường Giang ven biển chứ lên đến Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước thì…Ngay cả Bùi Tá Hán thì cũng được SKTT (1568) gọi là thổ quan Quảng Nam cho thấy nền hành chánh ở đây cũng lỏng lẻo lắm, nó không như sau 1602. Chính sự lỏng lẻo ấy là điều kiện cần có để sự giao lưu, giao thoa, tiếp biến v.v…diễn ra một cách tự thân, hồn nhiên và sâu đậm, đủ để trở thành một bản sắc.

V. SAU 1671: NHỮNG DÒNG HỌ ÍT HƠN 13 ÐỜI LÀ Ở ÐÂU RA?

Ðến năm 1648 có một đợt lưu dân to lớn đông đến 30.000 trai đinh nam giới đổ vào các thôn xóm Quảng Nam (bao gồm cả Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên). Ðó là số tù binh của Chúa Nguyễn bắt đưộc của Chúa Trịnh trong cuộc chiến ở cửa biển Nhật Lệ. Có tài liệu nói số tù binh chỉ là 3.000. Nhưng số lượng thế nào chăng nữa thì chắc ở đó cũng có đủ tất cả các họ của Người Việt, và đây là những ” Thủy Tổ” cuối cùng của các dòng họ Quảng Nam. Từ đó đến 1671 Trịnh- Nguyễn nhiều lần đem quân đánh ra hoặc đánh vào, có thể giai đoạn này có thêm một ít tù binh nữa nhưng khôngthấy sử chép thành vấn đề. Ông tổ của nhà Tây sơn cũng là tù binhtrong những trận giao chiến qiai đoạn này. Và đến 1671 thì hai họ thôi chiến tranh, lấy sông Gianh làm ranh giới Nam Bắc.

Biên giới Trịnh -Nguyễn là biên giới quân sự, không được qua lại. Năm 1716 Chúa Nguyễn Phúc Chu mật sai hai người khách buôn Phước Kiến là Bình và Qúy (không rõ họ) sang Quảng Tây rồi qua ngõ Nam Quan mà vào Thăng Long để xem xét tình hình Ðàng Ngoài. Vào đến Nghệ An thì không thể đến Bố Chính được vì trấn thủ là Lê Thì Liêu cấm ngặt, ai không có giấy hộ chiếu của các trấn, ty cấp thì không được vào châu Bố Chính. Có nghĩa là, như a thường nói, một con chuột cũng không lọt. Thâm chí đến 1738 Lê Duy Mật là con vua Dụ Tông ly khai chống Trịnh, xin chúa Nguyễn mở cửa biên giới đón nhận rồi hợp lực chống Trịnh. Lời thư rất tha thiết nhưng chúa Nguyễn chỉ hậu đãi sứ giả rồi từ khước việc mở cửa biên giới. Rõ ràng suốt giai đoạn 1671 về sau những cuộc di dân là chấm dứt, tù binh cũng không còn. Có thể có một số dân vượt biên bằng đường biển, đường núi nhưng chắc chắn số lượng không đáng kể và không đủ để tạo nên vấn đề.

Sau đó không có cuộc di dân nào nữa cho đến khi Tây Sơn thống nhất đất nước rồi nhà Nguyễn lên ngôi. Những cuộc di dân sau Tây Sơn không còn dừng lại ở vùng Quảng Nam nữa.

Có một câu hỏi cực lớn được đặt ra là: những người miền Bắc cuối cùng vào tạo nên các dòng họ là những năm 1648-1671 đến nay tròn 350 năm. Cứ 23,5 năm là một đời thì đến nay ít nhất cũng được 14 đời. Vậy những dòng họ có số đời 10-12, thậm chí 8-9 là ở đâu ra?

Số dòng họ có số đời như thế, dưới 13 ở Quảng Nam lại khá nhiều, thậm chí rất nhiều. Lý do đưa ra có thể là số ông bà “thỷ tổ” vào trước 1671 ấy ít học, không ghi chép gì. Ðến nhiều đời sau khi con cháu có người có điều kiện học hành thì mới tiến hành ghi chép làm gia phả. Dĩ nhiên là vậy nhưng điều này không thể giải thích được là tại sao lại có những làng, những xã không tìm đâu ra một dòng họ có số đời trên 14. Chưa có công trình điều tra về chuyện này nhưng một số nơi chúng tôi biết được như phường Nại Hiên Ðông, Mân Thái thuộc thành phố Ða Nẵng chẳng hạn, ở đây khó tìm thấy một nhà thờ tộc họ, ý niệm về dòng họ khá mờ nhạt, nếu có thì không có mộ họ nào quá con số 12 đời mặc dù vùng đất này đã có người ở suốt từ đời Chămpa qua Ðại Việt. Khu vực chùa Bà Quảng phường Hòa Cường Thành phố Ðà Nẵng có họ Nguyễn gia phả ghi 12 đời và giữ một phong tục không giống nơi khác là khi chôn người chết đều để nắp hòm ra ngoài, không chôn. Ở huyện Thăng Bình anh Lê Ðình Cương giáo viên ở Tam Kỳ kể vài phong tục rất lạ đến nay vẫn còn mộtsố người thực hiện. Chưa kiểm chứng nhưng chúng tôi nghĩ rằng nếu hỏi về số đời của họ chắc chắn sẽ có lắm điều hay, nhiều họ sẽ không quá số 12 đời. Họ từ đâu tới? Có thể lý giải được chuyện này không?

Sau khi chiến thắng Chiêm Thành trở về, tháng 9 vua Lê Thánh Tông ra sắc chỉ:” những người nguyên quán là quan lại ngụy, những người là cha Ngô mẹ Việt, bọn phản nghịch và người Ai Lao, Chiêm Thành hết thảy là nô lệ của nhà nước. Con cái còn bé cho thay đổi họ tên làm dân thường”. Ðến tháng 9 năm 1472 lại ra sắc chỉ:” cho Thái bộc tự khanh xét họ tên của bọn người Chiêm, người Man. Họ của người Chiêm thì mới cũ theo đúng quy chế, họ của người Man thì dồn lại”.(Trong kho Hán Nôm có còn lưu giữ lại mấy quy chế này?) Ta không hiểu được quy chế đặt ra cho việc đặt họ của người Chiêm là như thế nào, nhưng biết chắc một điều rằng từ nay người Chiêm phải ghi họ tên mình bằng chữ Hán. Những con cái có cha mẹ cứng đầu thì phải mang họ Việt và trở thành người Việt. Ngoài một số họ như Ông, Ma, Trà, Chế rất đặc trưng họ Chàm ra, ta còn biết một số họ được viết và đọc bằng âm Hán là Phạm, Phan, Ðặng, Ðinh…

Lúc này các chúa Nguyễn cần tăng cường sức mạnh quân sự và một trong những điều phải làm là nắm chắc dân số, tiến hành làm hộ tịch, hộ khẩu của tất cả các địa phương kể cả các thôn xóm xa xôi hẻo lánh nhất. Một điều tất nhiên phải xảy ra đối với những “cán bộ” đi làm hộ tịch, hộ khẩu khi đến các gia đình, thâm chí các làng người Chàm, như trong Ô châu cận lục đã nói, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi ghi tên họ của những người Chàm bằng chữ Hán, nhất là đối với đa số dân Chàm trong các làng nông nghiệp hoặc chài lưới như (vùng Nại Hiên Ðông chẳng hạn) đềuít học và không biết chữ. Người Chàm không có họ nhưng ngay trong trường hợp có họ thì đa số các họ đều không thể ghi bằng chữ Hán. Vua Lê Thánh Tông đã có một sắc chỉ về chuyện này, nhưng chúng ta không biết các chúa Nguyễn xử lý chuyện này như thế nào.Ở phường Nại Hiên Ðông Ðà Nẵng chúng tôi gặp rất nhiều người có tên ghi giấy khai sinh là Chén, Ðóc, Nư, Tồi, Hứ, Gà, Cốc, Rô, Mãi… Giả sử, xin nhắc là giả sử những người đó là người Chăm thì ông”cán bộ” hộ tịch, hộ khẩu làm sao phân biệt thằng Rô này với thằng Rô kia, làm sao phân biệt thằng Hứ với con Hứ? Mà chuyện đó thì rất quan trọng trong việc gọi quân. Hình như các “cán bộ” hộ tịch, hộ khẩu thời các chúa Nguyễn giải quyết bằng cách: thôi thì mày lấy đại họ gì đó cũng được, miễn là cha con giống nhau, con trai thì đệm chữ Văn, con gái thì đệm chữ Thị. Tình hình có thể cũng giống như năm 1998 này ở Trà My, hồi tháng tám, chúng tôi có dự buổi bế giảng một lớp y tế thôn bản cho đối tượng là các con em ngưới Cor, Mơ Nong. Danh sách tên 76 học viên đều có đủ các họ mà người Kinh đang có như Ðinh, Lê, Lý, Trần, Trịnh, Phan, Nguyễn, Phạm, Hoàng…Bởi vì không thể ghi khai sinh bằng một cái tên Tắc hoặc Mia hoặc Nhim được. Người Ca Dong, Mơ Nong ở Phước Sơn, Giằng thì đơn giản hơn. Họ Nguyễn ở Quảng Nam nhiều có phải cũng là vì như thế? Chỉ cần ba đời là những người cháu nghĩ rằng mình có họ đó thật rồi, mình là người Việt thật rồi. Thêm nữa qua câu khấn cúng đất: “Ma Chàm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ, thương vong đói khát, ma Lồi, ma Lạc, hữ danh vô vị, hữu vị vô danh, đẳng chúng cô hồn, đồng lai thụ hưởng”. Giúp ta hiểu những người Chàm ở lại, họ mong muốn càng mau chóng quên gốc gác càng tốt, họ không kể gốc gác lại cho con cháu, nếu có thì cũng chỉ hai ba đời là hết. Trong kho lưu trữ Hán Nôm thời Nguyễn có ở đâu đó chép lại sự kiện nầy? Nếu không thì trong thực tế, ít ra cái giả định như thế nó cũng góp phần giải thích được là tại sao ở Quảng Nam lại có những làng, những xóm, toàn là họ Nguyễn, gia phả hình thành nhiều lắm chỉ 10, 12 đời. Vùng Quảng Ngãi, Bình Ðịnh nay, cũng rất ít có họ nào trên 14 đời, nhưng đó có thể là những di dân đi từ Quảng Nam sau 1648. Nếu ở đó có những dòng họ không phải có gốc Quảng Nam thì sao?

Quả thật chuyện là quá lớn và xin nhắc lại, tất cả chỉ là những giả định. Chúng tôi tin rằng với thời gian sẽ tìm ra được các bằng chứng đủ để chứng minh những giả định là sự thật. Ngay cả trong trường hợi có đủ bằng chứng để phủ nhận một giả định nào đó thì ít nhiều nó vẫn giúp chúng ta hiểu được những gì đã xẩy ra với cha ông mà vì nhiều lý do phần lớn ký ức, phần lớn lịch sử đã bị lãng quên.

Tóm lại cuộc di dân của người Việt vào vùng nam Hải Vân là không phải kéo dài 700 năm suốt từ nhà Lý đến thời các vua Nguyễn mà có thể chia làm mấy giai đoạn chính:

1/- Từ 1360 đến 1402 là sự ổn định của vùng Bắc Hải Vân, mặc dù từ 1306 trên giấy tờ biên giới đã đến sông Thu Bồn.

2/- Từ 1402 đến 1407 là 5 năm của những cuộc do dân đầu tiên được tổ chức qui mô, cẩnthận, nghiêm khắc và cương quyết dưới sự chỉ đạo của triều đình nhà Hồ. Ðối tượng không phải là những người nghèo, tội nhân đi đày mà chính là những người có của, có học, thân cận với triều đình họ Hồ. Giai đoạn nầy người Việt vào sống bên cạnh người Chiêm là chuyện không cần phải bàn. Ðây chính là giai đoạn tiền đề rất quan trọng để hình thành nên sự giao thoa của hai nền Văn Hóa Chiêm Thành – Việt Nam, hoặc có thể nói cường điệu là của hai nền văn hóa khổng lồ của nhân loại là Ấn Ðộ và Trung Hoa, để từ đó hình thành nên bản sắc văn hóa độc đáo của người Quảng Nam rồi sau đó là cả xứ Ðàng Trong đến tận Cà Mau sau nầy.

3/- Từ 1471 đến 1671 là 200 năm của những cuộc di dân ồ ạt, tổ chức có, bắt buộc có, tù đày có, lính thú ở lại có, di dân tự phát có, tù binh có, ngoại kiều có…Ðể rồi cha761m dứt một cách hoàn toàn, tuyệt đối sau đó! Cũng như sự chấm dứt di cư 1448, sự chấm dứt di cư 1671 chính là điều kiện cần có để sự giao thoa đã hình thành đi vào ổn định, không bị pha trộn thêm, để cố định một bản sắc vững bền đến mức nhiều biến động sau nầy vẫn không thay đổi. Mãi đến thời Tây Sơn và vua Nguyễn các di dân mới trở lại với số lượng không đáng kể. Ðiều quan trọng cần được xác định làm rõ trong giai đoạn nầy là người Việt vào, là vào ở nơi vùng đất trống huơ không bóng người hay là sống bên cạnh những làng Chàm? Nếu có thì số lượng những làng ấy là nhiều hay ít? Và quá trình chuyển sang Việt của họ diễ ra như thế nào? Chuyện lấy vợ Chàm cần xác định đến đâu? Vai trò của những người vợ Chàm cần phải xác định như thế nào trong việc hình thành văn hóa, tính cách con người xứ Quảng.

Rõ ràng còn rất nhiều việc phải làm và sự công phu không thể của một người. Ở đây chỉ là một cái nhìn tổng quát bằng phương pháp phân kỳ. Hy vọng rằng sự phân kỳ nầy sẽ hé mở ra một cách tiếp cận mới đối với sự nghiên cứu lịch sử, bản sắc văn hóa của vùng Quảng Nam nói riêng và xứ Ðàng Trong nói chung. Ít ra thì nó cũng gợi nên một phương pháp đối với ngành gia phả học, nguồn gốc các tộc họ ở vùng đất Quảng Nam trở vào. 

Hồ Trung Tú, 26 August 2006 (Theo xuquang.com) 

Tháng Mười Một 1, 2008 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điện Bàn – Ngang dọc…dấu xưa…

Chung quanh quãng đường chỉ khoảng chừng 4km, chạy từ thị trấn Vĩnh Điện đến làng Đông Khương dưới chân cầu Câu Lâu chứa đựng trong lòng bề dày quá khứ. Có thể một đời vẫn không thể nào “đi hết” cung đường ngắn ngủi này…

Điện Bàn từng là tâm điểm của những cuộc giao thoa, tiếp biến của hai nền văn hóa Chăm-Việt. Dấu ấn của cuộc giao thoa ấy vẫn còn in đậm trong cách làm ăn, nết ở, cũng như trong bao lễ hội được tổ chức ngày nay.

Dinh trấn xưa và những bậc kỳ tài

Theo những tư liệu lịch sử, Dinh trấn Quảng Nam được xây dựng từ tháng 7 năm Nhâm Dần -1602, năm thứ 45 đời Gia Dũ Hoàng đế. Các thế tử trước khi lên ngôi đều phải vào làm tổng trấn Dinh này. Bây giờ, những di tích kiến trúc của khu Dinh trấn Thanh Chiêm không còn nữa sau bao nhiêu cuộc tao loạn, thương hải tang điền,  nhưng nó vẫn là biểu tượng văn hóa của quá trình mở mang bờ cõi quốc gia dân tộc, được xem như chiếc nôi ra đời của chữ quốc ngữ và là dấu ấn trọng yếu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Và cùng với cánh cửa mở Hội An, dinh trấn Thanh Chiêm trở thành một trung tâm văn hóa, sản sinh ra biết bao bậc hiền nhân, kỳ tài cho đất nước

Ngược phía tây đường, sẽ gặp làng An Quán( Điện Phương) gắn với nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh. An Quán từng được xem là trung tâm biểu diễn của nghệ thuật tuồng Quảng Nam . Đi đò dọc khoảng 1giờ, hoặc mượn đất Duy Xuyên khoảng 30 phút, là đã có thể nhận mặt vùng Gò Nổi đất học, địa linh nhân kiệt, cái rốn của “Ngũ phụng tề phi” xứ Quảng,  hiển hiện trong bút ky “Đứa con phù sa” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Vùng đất có Tổng đốc Hoàng Diệu, có Phạm Phú Thứ kinh bang tế thế, có thi nhân Phạm Hầu với “Vọng hải đài” để muôn đời còn vọng: “Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận. Chẳng biết xa lòng có những ai”…

Xuôi về phía đông, gặp vùng Lai Nghi ( Điện Nam)  với nhiều hiện vật khảo cổ có giá trị đã được phát hiện trong một cuộc khai quật khảo cổ  văn hoá Sa Huỳnh từ nhiều năm trước, đã mở  đường cho các nhà khảo cổ đi tìm cách lý giải cội nguồn của cư dân đang sống trên đất Quảng Nam…

Du chơi  làng nghề

Không kể món bê thui “độc nhất vô nhị” làm mềm lòng thực khách khắp nơi mỗi khi ngang đường thiên lý Bắc- Nam, đang phát triển từng ngày, mà theo bước lưu dân vĩ đại , nền văn minh sông Hồng, sông Mã, sông Lam… đã lưu dấu trên cung đường này những làng nghề “vang bóng một thời”, những triền dâu xanh ngút mắt. Một làng đúc Phước Kiều nức tiếng gần xa, với những nghệ nhân thẩm âm nổi tiếng rất hiếm hoi của một nền nghệ thuật cồng chiêng (góp phần cho Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là  di sản văn hóa của nhân loại); một làng bánh tráng, mì Phú Triêm, đưa mỳ Quảng vào danh mục đặc sản của một vùng miền, vẫn giữ lại hương vị nguyên trinh của món mì Quảng xưa mà hiện nay không thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu khác. Ở đây, mỗi sáng, hàng trăm cô hàng Thanh Chiêm, Triêm Nam ..kẽo kẹt quang gánh sang làng bên, huyện khác và lên cả xe buýt ra tận Đà Nẵng quảng bá đặc sản quê mình, và trở lại ươm khói trời chiều từ đêm tới sáng. Và nước mắm Hà Quảng, Dệt Nông Sơn, mây tre An Thanh, chiếu chẻ Triêm Tây hoặc các nghệ nhân trẻ vừa “lên đời” với gốc rễ văn hoá tạo tác nên hồn gốm của Hạ, chạm khắc nghệ thuật Nguyễn Văn Tiếp và hoa trái đồng quê tranh khắc gỗ … cũng đã từng làm nao lòng du khách với phong vị vừa dân dã vừa mới mẻ.

Mở cửa tương lai

Sở hữu nền tảng văn hóa và dấu vết cũ xưa, Điện Bàn đã góp phần  vào cơn sốt du lịch bằng 8km ven biển hoang sơ, đẹp đẽ, hừng hực ánh nắng. Biển Hà My, dường chỉ dành cho cư dân địa phương nhàn du hoặc  của một số người thích xê dịch, thay đổi không khí, đã bắt đầu nóng lên với sự ra đời của các khu du lịch nổi tiến: The Nam Hải, Kim Vinh, Đại Dương xanh, sân golf của Sài Thành…; một khu du lịch “bảo tàng tre Việt” mọc trên đồi  “lửa nóng” Bồ Bồ (Điện Tiến) của Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Phước Tiến, đã hướng cái nhìn của cư dân địa phương về cái giá của đất, cát, gò đồi. Làng đúc đồng Phước Kiều không bao giờ thiếu vắng trong danh mục các tour du lịch làng nghề trên con đường di sản. Hàng trăm triệu đồng đã được đổ vào xây dựng đường giao thông, công trình điện cho các làng nghề, nghệ nhân được tôn vinh.  Những cuộc triển lãm làng nghề, hội chợ ẩm thực địa phương, kịch bản sân khấu hóa tái hiện hình ảnh võng lọng đón rước “Ngũ phụng tề phi”, “vinh quy bái tổ” cùng các tiết mục , xướng ca các vị anh hùng đất Điện từ quá khứ đến hiện thực được mở  thường xuyên tại địa phương. Các làng nghề truyền thống được đầu tư hàng trăm triệu đồng, tập trung thành một làng quê Việt thu nhỏ( đúc đồng Phước Kiều, bánh tráng Phú Triêm, chiếu chẻ Triêm Tây…), xây dựng các  bến thuyền du lịch chuẩn bị mở tour sông nước Thu Bồn… thêm một lần nữa đánh thức các giá trị văn hoá cho du khách tìm lại dấu xưa, người cũ… Điện Bàn

Tâm Ca (Theo Điện Bàn online)

Tháng Chín 29, 2008 Posted by | 5. Đất và Người | Bạn nghĩ gì về bài viết này?