XỨ QUẢNG

Lụt năm Giáp Thìn 1964

Hằng năm, cứ đến ngày mùng 6 tháng 10 âm lịch, nhiều gia đình ở vùng tây Quế Sơn, nay là huyện Nông Sơn có lễ giỗ những thân nhân tử nạn vì “trận lụt Giáp Thìn”. Trong trận lụt lịch sử này, ông nội tôi lúc đó đang ở Cà Tang cùng gia đình cô tôi, trên chiếc mấy chiếc ghe chở đồ đạc, bị cuốn vào dòng nước khi đã cây neo ghe đổ nhào. Cô tôi nhờ nổi bình bồng trong cái áo mưa may mắn được ông chèo ghe vớt lên. Còn vợ ông chèo ghe thì chìm trôi theo nước. Ông nội tôi mất tích trong dòng nước dữ ngày mùng 7 tháng 10 âm lịch, hôm nay là ngày giỗ.

Cậu tôi, nhà thơ Tường Linh có bài thơ được ghi ông là kể theo lời anh Cả Ngoạn, một người cậu khác của tôi

Dưới đây là bài thơ “Thảm nạn quê hương” của ông

Không còn gì nữa cả
Không còn gì nữa cả em ơi!
Một tháng quê hương không bóng mặt trời
Một tháng quê hương mưa gào gió thét
Đất Quảng thân yêu người người rên siết
Sáu mươi năm lại đến “họa năm Thìn”
Thảm nạn này biết thuở nào quên!

Biết thuở nào quên!
Một tối nước lên, nước tràn lên khủng khiếp
Cả ngàn người, cả vạn người không chạy kịp
Nước réo ầm ầm át tiếng kêu la
Chới với. Ngửa nghiêng. Người cuốn theo nhà
Nhà theo sóng. Người không thấy nữa
Nhìn con trôi, mắt cha máu ứa
Ngoi lên, tay vợ níu lưng chồng
Rồi hai người thành hai xác giữa mênh mông
Tấp vào bờ thây của người ông
Giữ xác cháu, hàm răng ghim áo cháu
Nhà có mười người, hết đường phấn đấu
Sợi dây dài vội vã thắt tay nhau
Cây nước tràn lên, cây nước phủ đầu
Một “dây xác” trôi về đâu, ai biết…

Còn bao cảnh não nùng, bi thiết
Nói không cùng, ghi chẳng hết em ơi!
Đất Quảng quê ta chết bốn ngàn người
Kể chung miền Trung còn hơn thế nữa!
Người sống sót không còn nhà cửa
Không áo cơm, khô cả lệ thông thường
Cắn vành môi nhìn lại một quê hương
Bỗng run sợ tưởng đây miền địa ngục
Quê hương ta: một hình hài ngã gục
Cà Tang ơi, Trung Phước, Đại Bình ơi!
Đông An, Bình Yên… nước xóa cả rồi
Đá núi lấp đồng, bùn sông lấp xóm
Mưa vẫn còn rây trên quê hương ảm đạm
Đồng hoang vu còn giữ những thây người
Những thây người! Không đếm hết, em ơi!

Em hãy ghi: Ngày mùng 6 tháng 10
Năm âm lịch Giáp Thìn, em nhé!
Ngày giỗ quê hương, dù bao thế hệ
Thảm nạn này biết thuở nào quên
Xót thương về, em hãy đốt hương lên.

(Ghi theo lời anh Cả Ngoạn kể)

Tháng Mười Một 1, 2011 Posted by | 6. Thơ văn | %(count) bình luận

Cuối năm, thăm nhà thơ Xuân Tâm

Những ngày cuối năm Canh Dần 2010, nhân ra Hà Nôi, tôi có dịp đến thăm Cụ Xuân Tâm (Phan Hạp) một thân tộc cao niên, nhiệt tình việc khuyến học tộc họ, một nhà thơ tiền chiến còn lại cuối cùng …

Lạnh! Hà Nội những ngày cuối năm vẫn còn quá lạnh đối với người miền Trung như tôi. Trên đường, người và xe vẫn tấp nập. Hình như mọi người quên cả lạnh, vội vã cố làm cho xong những việc còn lại trước khi qua năm mới. Co ro trong chiếc áo ấm to, dày, tôi tìm đến thăm cụ Xuân Tâm, trong những cơn gió lạnh buốt da mặt.

Cụ Xuân Tâm, tức cụ Phan Hạp, năm nay đã 95 tuổi, là người họ Phan làng Bảo An, xã Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam. Cụ là con trai thứ hai của ông Phan Diêu, sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học ở Bảo An. Từ trước năm 1945, Cụ đã đăng nhiều bài thơ trong các tạp chí Tân văn, Sông Hương, Bạn đường, Thanh niên, Đoàn kết kháng chiến Liên Khu 5, Văn, Đại đoàn kết,Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam. Năm 1941, Cụ xuất bản tập thơ “Lời chim non”, có nhiều bài Cụ sáng tác từ năm 1935, tức năm 19 tuổi. Trong tập thơ này, có bài “Nghỉ hè” đã đoạt giải Nhất trong cuộc thi thơ của báo Bạn đường. Cụ Xuân Tâm và thơ của ông đã được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu, chọn đưa vào tập “Thi nhân Việt Nam” xuất bản năm 1941.

Những năm gần đây, Cụ Xuân Tâm quan tâm ủng hộ việc tộc họ, nhất là việc khuyến học của con cháu quê nhà. Cụ là người đã tích cực đóng góp nhiệt tình chung sức lập Quỹ khuyến học khuyến tài 100 triệu đồng, hiện đang được Hội đồng gia tộc và Chi hội khuyến học tại Bảo An sử dụng khen thưởng học sinh giỏi hàng năm.

Bác xe ôm khéo léo luồn lách giữa dòng xe máy, ô tô dày đặc trên đường phố để đưa tôi về phía đường Thụy Khuê. Thấp thoáng xa xa mặt hồ Tây, lãng đãng sương mờ, tỉnh lặng, mặc phố xá ồn ào, náo nhiệt. Nhà Cụ Xuân Tâm ở trong cùng dãy nhà số 1 ngõ 234 Thụy Khuê, sau cánh cổng gỗ. Mở cửa đón khách là chị giúp việc trong nhà cụ, vẻ đon đả nhiệt tình khi biết tôi từ quê ra thăm.

Nghe tiếng gọi “Cụ ơi có khách”, Cụ Xuân Tâm ngồi dậy bước đến bàn làm việc. Tôi vội đến chào và đỡ Cụ ngồi xuống chiếc ghế sau bàn làm việc. Căn phòng nhỏ bày biện một chiếc giường, ngay phía trước giường là bàn làm việc và bàn tiếp khách. Trên bàn làm việc để đầy tạp chí, sách báo, bút viết, có chiếc kính lúp để đọc sách. Phía góc nhà, đặt bàn thờ Cụ bà, còn mới.

Sau khi giới thiệu, tôi xin phép bày hộp bánh khô mè mang từ quê lên bàn thờ Cụ bà thắp hương, rồi mừng tuổi Cụ ông do không có dịp đến thăm cụ ngày tết. Tôi chuyển lời thăm hỏi của bà con họ Phan tại Bảo An, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và gửi Cụ phong thư thăm hỏi của cô Phan Thị Miều, con gái ông Phan Khôi. Cụ chăm chú nghe tôi nói và cười hồn hậu, lấy chiếc kíp lúp trên bàn đọc thư cô Miều, thỉnh thoảng gật gù thích thú.

Tôi báo Cụ hay những hoạt động của tộc họ, nhất là hoạt động khuyến học, sử dụng quỹ khuyến học, khuyến tài tại Bảo An, mà Cụ là một trong những người người quan tâm và ủng hộ đóng góp nhiều nhất. Đôi lần, tôi ý tứ muốn dừng câu chuyện để Cụ nghỉ ngơi. Nhưng với giọng nhỏ, nhẹ, Cụ bảo “tốt, tốt”, rồi chăm chú nghe chuyện. Tôi cũng kể về dự định của Ban Tri tộc tại thành phố Hồ Chí Minh muốn làm tuyển tập thơ văn họ Phan Bảo An và rất mong Cụ sẽ gửi bài đăng.

Nghe chuyện thơ văn, cụ ngước nhìn, ánh mắt như vui hơn. Tôi mở quyển Thi nhân Việt Nam đem theo, đọc Cụ mấy câu trong bài “Xa lạ”:

“Chân ngắn quá không đi cùng trái đất

Để mắt nhìn cảnh lạ trải bên đường”

Rồi lại đọc mấy câu trong bài “Nghỉ hè”:

“Sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết

Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về

Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê

Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!”

Lúc này, nhìn gương mặt Cụ cười thật rạng rỡ. Nghe tôi đề nghị viết vài chữ lưu niệm chuyến thăm viếng cuối năm, Cụ cầm bút ghi hai chữ “Xuân Tâm” vào trang đầu sách Thi nhân tiền chiến.

Vì phải vội về cho kịp chuyến bay, tôi xin phép chia tay Cụ mà lòng vẫn nhiều nối tiếc. Việc tộc họ, việc thơ ca, tôi vẫn còn chưa nói hết. Bước ra ngoài ngõ, trái ngươc với không gian tĩnh lặng, ấm áp trong nhà Cụ, đường phố càng đông đúc tấp nập hơn lúc tôi mới đến. Ngoái lại sau lưng nhìn chiếc cổng gỗ đã khép lại, nghĩ đến hình ảnh ông cụ già nua, đang cầm chiếc kính lúp đọc lại lá thư từ quê vừa gửi ra, tôi chợt ấm lòng.

Đường về, trời vẫn lạnh cắt da như lúc ban mai. Phía bên kia đường, một chú bé con nhìn tôi vẫy vẫy tay chào, miệng cười thật tươi. Em như hiểu được niềm vui của tôi sau chuyến thăm Cụ Xuân Tâm, một thân tộc cao niên nhiệt tình với việc khuyến học của tộc, một nhà thơ cuối cùng của văn đàn tiền chiến còn sót lại trần gian, sau khi nhà thơ Tế Hanh ra đi mãi mãi.

Hà Phan Theo hophan.net

Tháng Hai 18, 2011 Posted by | 6. Thơ văn | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Quê thiêng – Một bài thơ hay, vì giản dị

(Cadn.com.vn) – “Sông thiêng”, “núi thiêng”, cách gọi này đã quen. Ở đây, nghĩa của từ nằm trong sự đối nghịch – thống nhất của hai yếu tố vật chất và tinh thần. Nhưng “quê thiêng” của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ, thì dường như là cách nói hơi… lạ. Và mới.Quê, ở đây hẳn nhiên không phải là quê quán (cụ thể quá). Cũng không phải là quê hương (hơi trừu tượng) hay quê nhà (hơi thực thà và chật hẹp). Tất nhiên, những “giải minh” vừa dẫn chỉ là sự so sánh tương đối, như hầu hết mọi so sánh khác. Bởi vì, nghĩa và ý của mỗi một từ sẽ biến hóa theo từng ngữ cảnh. Và đó cũng là lý do để ngôn ngữ tồn tại – phát triển, trong đó có sự đóng góp của các nhà thơ.“Quê thiêng”, là cách nói vừa cụ thể vừa gợi mở, trong ý niệm chiếm lĩnh thời gian – lịch sử, cách nói mà chỉ có thơ mới có khả năng đạt đến.

Những biền dâu xanh ngát

Những lọn tơ óng vàng

Và sông Thu dào dạt

Đã làm nên hồn tôi.

Khổ thơ mở đầu của bài thơ Quê thiêng là một sự… vô lý: những hiện tượng thiên nhiên và những sự vật khách quan không thể tạo tác nên những khí quan nhận biết của sinh – vật – người, nếu nhìn ở thời điểm cái – gọi – là “hồn” này được sinh ra. Nhưng hãy nghe tác giả chứng minh sự vô lý này bằng một diễn trình không – phi – lý:

Dù đi bốn phương trời

Vẫn nhớ về quê cũ

Mảnh đất lành phên giậu (*)

Rạng hồn thiêng tổ tiên.

Ở đây, cái “hồn” cá thể đã hóa thành thời gian, ký ức của một lịch sử thấm đẫm hơi thở đời sống của cả một cộng đồng người Việt trải suốt chiều dài dựng nước – giữ nước. Đến đây, thì câu hỏi vì sao quê lại “thiêng” đã được hiển lộ: cuộc đấu tranh để tồn tại của bao thế hệ cha ông đã thổi vào những núi những sông kia sự sống của người. Thực ra, về đặc điểm địa lý, vùng đất mới Quảng Nam không “dễ sống” đối với những lưu dân mới đặt chân đến nơi đây, nhưng những điều kiện khắc nghiệt về nhiều mặt của khu vực này đã dần trở nên “lành” hơn dưới tác động của những chủ nhân mới. Hay nói khác đi, đất hóa “lành”, chính là do Lòng Yêu của con người đã gửi trao cuộc đời vào đất.

Trong câu thơ thứ ba, của khổ thơ thứ ba “thơ vượt qua lệ bỏng”, ta có thể nghe tiếng gươm khua của một thời đi mở cõi cách nay khoảng 500 năm, và giúp ta có thể thấm tận những ánh rực rỡ và những đớn đau của bao thế hệ tiền nhân. Để làm gì? Không phải cho riêng ai, mà để làm nên cái tính cách, cái hào khí của người Quảng Nam:

Sông núi bao người hiền

Quật cường bầu máu nóng

Thơ vượt qua lệ bỏng

Thành thanh khí nghìn năm.

 

 Quê

Hai khổ thơ tiếp theo là sự phát triển của bài thơ trong quá trình miêu tả những đặc điểm và khí chất của đất và người, gắn với lịch sử, được nhấn mạnh bởi những sự kiện lịch sử cận đại:

Lòng như ánh trăng rằm

Xuyên màn đêm danh lợi

Thẳng ngay nào phải tội

Pháp trường đầu ngẩng cao

Mạch sống luôn dâng trào

Đất nghèo người hiếu học

Tre chưa già măng mọc

Mắt không rời tương lai.

Nếu phải nói rõ hơn, đấy chính là những sự kiện về những con người đầy khí tiết mà điển hình là những cái chết của Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân…, về lục phụng bất tề phi và cả ngũ phụng tề phi…

Hai câu thơ sau của khổ thơ thứ năm, về mặt vận động của bản thân quá trình sáng tạo bài thơ, có thể xem như câu thơ “dẫn lưu” hơi sớm, để đi đến cái kết của bài thơ. Nhưng về mặt nội hàm tư tưởng của bài thơ, tự dưng, hai câu thơ này bỗng trở thành một dự phóng của ý thức cộng đồng: “Tre chưa già măng mọc/ mắt không rời tương lai”. Ở hai câu thơ có vẻ không đáng chú ý này (về mặt ngôn ngữ nghệ thuật), tôi tin rằng, Tần Hoài Dạ Vũ cũng không cố ý trình bày điều tôi vừa thử giải mã. Nhưng đấy chính là niềm hạnh phúc của thi sĩ: sự ban tặng của tự nhiên cho những giây phút bay bổng của quá trình sáng tạo. Nói thế, là để trở lại với cái từ “quê thiêng”, nhan đề bài thơ: khi một cá thể đã gửi trọn tâm hồn cho mảnh đất mình yêu thương gắn bó thì anh linh của tiên tổ, hồn thiêng của đất nước, núi sông sẽ hiện ra như một ánh phản chiếu dịu dàng trên đời cá nhân ấy. Và cái gọi là “đời ta” ở câu thơ kết thúc, cái Ta ấy, không còn là một cá thể, mà chính là đời sống của cả cộng đồng, những người đã sinh ra, lớn lên, sống và chết với mảnh đất này:

Tạ ơn con sông dài

Chảy vào lòng thương nhớ

Hồn quê như ngọn gió

Thao thức suốt đời ta.

Chính vì thế, “tạ ơn con sông dài” không chỉ là tấm lòng hướng về dòng Trường Giang kia và tất cả những gì nằm trong vùng đất với phía bắc là đèo Hải Vân, phía nam là Dốc Sỏi, mà đã “vượt địa giới” để đến với một thực thể rộng lớn hơn: Đất và Người Việt Nam.

Về mặt hình thức thi ca, trừ hai từ “lệ bỏng” ở khổ thơ thứ ba, bài thơ không có những “từ hay”, theo cách hiểu quen – và – cũ. Xuyên suốt cả bài thơ, là một thứ ngôn ngữ như lời nói bình thường, mà thực chất, đó chính là vẻ đẹp của khái niệm “đạm” trong nhận thức thẩm mỹ của nhà phê bình văn học nổi tiếng Viên Mai (Trung Quốc) : cái “đạm” sau khi đã “nồng”.

Sẽ không bao giờ vắng bóng những con người sống trong niềm khát vọng hướng về cái Đẹp, cái Đúng và luôn đấu tranh cho lý tưởng ấy. Quê thiêng, như thế, là một Tình – Yêu – Thao – Thức. Của trách nhiệm công dân. Của con người.

Nguyễn Đông Nhật

(*) Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi gọi vùng Quảng Nam xưa (Hòa Châu) là “phên giậu” phía Nam của Tổ quốc.

http://hophan.net/?cmd=act:news|newsid:291

HOPHANBAOAN (Theo Báo CAĐN)

Tháng Bảy 1, 2009 Posted by | 6. Thơ văn | 2 phản hồi

Thơ Bùi Giáng – Nỗi lòng Tô Vũ

NỖI LÒNG TÔ VŨ (*)

(Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú )

Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi

San sát đồi phủ phục quấn núi xanh

Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối

Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Vang vang lên đồi núi giọng be be

Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng

Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh

Bao lần anh cùng chúng em lận đận

Bôn ba qua rú rậm luống rùng mình

Những bận nào Quế Sơn Rù Rì con suối ngược

Nước trôi nguồn nước lũ xuống phăng phăng

Những bận nào mịt mùng mưa gió ướt

Đẫm thân mình co rúm lạnh như băng

Em nhớ hay không? hồn hoa dại cỏ

Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya

Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ

Gió cây rung trút lá mộng tan lìa

Nhưng từ nay Giáp Nam anh đóng trại

Cố định rồi – em khỏi ngại ngày đêm

Dưới nắng mưa tha phương du mục mãi

Cay đắng từng, bùi ngọt mặn mà thêm

Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện

Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi

Khoanh mấy vòng tay anh thoăn thoắt bện

Vòng cho em từng chiếc sắp xong rồi

Chiều đã xuống em đà no nê chắc

Huýt tù và! em xúm xít lại anh đeo cho

Mỗi chúng em mỗi vòng mây mỗi sắc

Lại mau đây! to nhỏ cổ anh so

Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm

Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu

Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh

Này em Hoa Cà (**) hỡi! chiếc nâu

Ngẩng đầu lên! dê ơi anh thong thả

Đeo vòng vào em nghển cổ cong xinh

Ngẩng đầu lên! đây lòng anh vàng đá

Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên

Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ

Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi

Trao người em trăm năm lời ước thệ

Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi (***)

Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc

Dành riêng mình – dê hỡi hiểu vì sao

Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết

Gán đời mình trọn kiếp với Dê Sao

Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng

Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưả

Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng

Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa

Và giờ đây một lời thề đã thốt

Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta

Cao lời ca bê hê em cùng thốt

Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha

Và giờ đây hoàng hôn mờ chĩu nặng

Bốn bề tràn lan bóng mịt mùng sa

Xếp hàng ngay nhanh lên hàng ngũ thẳng

Rập ràng về bế hế rập ràng ca

———————–

(*) Tô Vũ là một nhân vật bên Tàu thời Hán Vũ Đế, khi đi sứ sang Hung Nô đã bị nước này giữ lại, bắt đi chăn dê trong 19 năm, gọi là Tô Vũ Mục Dương.

(**) Dê Hoa Cà có lông lổ đổ tía hồng xem như hoa cà vậỵ Đẹp vô cùng. Nhất là những buổi chiều, sắc lông óng ả dưới nắng vàng – xa xa hình bóng dê rực rỡ nổi bật trên triền núi xanh lợ Dê Hoa Cà còn gọi là Dê Sao (vì lông lổ đổ sáng như sao).

(***) Như lần đầu, thuở hai mươi tuổi, trao cái vòng ngọc cho vị hôn thê mà không cảm động bằng lần đầu đeo vòng cho dê vậỵ 

Tháng Mười Một 13, 2008 Posted by | 6. Thơ văn | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Nguyễn Tường Linh

Hai miền thương

Quê hương tôi bên ni đèo Ải

Nhấp nhô bóng thuyền cửa Đại

Già nua nếp phố Hội An

Ngũ Hành Sơn năm cụm ngắm sông Hàn

Chùa Non Nước trầm tư hương khói quyện

Đêm Đà Nẵng vọng buồn con sóng biển

Bún chợ Chùa, thương nước mắm Nam Ô

Tôi muốn về Trung Phước giữa mùa ngô

Thăm quê ngoại Đại Bình cam đỏ ối

Sáng Duy Xuyên, tơ vàng giăng nghẽn lối

Chiều Điện Bàn, xe đạp nước thay mưa

Sông Thu chẳng thiếu đò đưa

Ngọt khoai Tiên Đoã, mát dừa Kiến Tân

Quế Sơn núi liếp mấy vần

Thương lòn bon Đại Lộc, nhớ rượu cần Trà My

Trăm người đi, vạn người đi

Đưa chân tám hướng còn ghi vết đời

Thuỷ triều sông Cửu đầy vơi

Nước tìm biển cả, tình người tìm nhau

Hai miền thương, một nhịp cầu

Ga xưa còn nhớ con tàu viễn phương

———————–

Đi giữa đôi bờ

Tôi về, thuyền ngược nước sông Thu

Thăm thẳm nguồn xa, núi mịt mù

Mưa vẫn còn mưa, chiều vẫn lạnh

Đôi bờ hiu hắt, bãi hoang vu

Đứng lặng trong mưa Vĩnh Điện buồn

Chân cầu trắng xóa nước sông tuôn

Thuyền lên mắt nuối bờ sông khuất

Cổ tháp Bằng An lạnh lẽo hồn

Qua nhánh sông này, mưa, vẫn mưa

Có gì khơi lại nỗi niềm xưa

Tình ơi, Giao Thủy hai nguồn nước

Gặp gỡ nhau sao chẳng đợi chờ?

Bến mộng Gia Hòa xanh ngát dâu

Áo tơ vàng cũ biết tìm đâu

Con đường dương liễu reo ngày trước

Dương liễu chiều nay vọng nhạc sầu

Núi điệp trùng vây, quê ta ơi!

Về đây người lại nhớ nhung người

Chợ chiều Trung Phước mờ sương khói

Dâu biển bao nhiêu lắm đổi dời!

Mai sớm tôi đi, thuyền xuôi dòng

Đôi bờ, xin gửi chút thương mong

Quê hương chớ gọi tôi là khách

Bài độc hành ca viết chửa xong.

Quảng Nam, 9-9-1964

Tháng Bảy 14, 2008 Posted by | 6. Thơ văn | 2 phản hồi