XỨ QUẢNG

Giỗ tổ Phái Nhì năm 2011 tại Bảo An













Tháng Tám 21, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hình ảnh Lễ khen thưởng HSSV giỏi năm 2011 ở Bảo An







Tháng Tám 15, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hình ảnh Lễ khen thưởng HSSV giỏi năm 2011







Tháng Tám 15, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | %(count) bình luận

Hoàn thành bản thảo Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994

Năm Giáp Tuất 1994, Phổ hệ Phan tộc, do Ban Tục Biên Phổ Hệ đã hoàn thành. Phổ hệ 1994 lấy Phổ Hệ năm 1891 làm cơ sở từ đời thứ Nhất đến đời thứ Chín và chép tiếp từ đời thứ 10 đến hết đời thứ 13.
Trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn sau 1975, Phổ Hệ được chép tay trên giấy kẻ ô vuông chất lượng kém. Theo thời gian, đến nay Phổ Hệ đã bị đứt gáy, giấy ố vàng, nhiều trang đã mục rách.

Trước thực tế đó, Tộc đã thành lập Ban Phụng Sao Phổ Hệ 1994 với thành phần là các ông Phan Đức Mỹ tức Nam Hà, Phái Ba đời thứ 14, làm Trưởng Ban, ông Phan Văn Thê, Phái Tư đời thứ 14, biên soạn và làm bản vi tính, ông Phan Nam, Phái Nhì đời thứ 15, phụ trách ấn hành

Trong bản Phụng Sao này, Ban phụng sao chép lại nguyên văn các Đời, chỉ chỉnh sửa một vài chỗ chưa được rõ ràng và đã lược bỏ:

– Một vài bài mang tính thời sự trong thời điểm 1994.

– Tông Đồ Tộc Phan của mỗi Phái. Chỉ giữ lại Tông Đồ Tộc Phan từ Đời Thứ Nhất đến Đời thứ Nhì, là đời phân rõ 5 Phái .

– Bản Cung Lục Thực Lục

Đồng thời thêm vào các bài viết:

– Nguồn gốc Tộc Phan

– Sắc Phong Tiền Hiền
– Tông đồ Nguồn gốc Tộc Phan: Từ Ngài Nghệ An Trại Chủ đến Ngài Tiền Hiền Tộc Phan Bảo An.

– Hình Nhà Thờ Tộc Phan tại Bảo An

– Hình Điện thờ Ngài Thái Thượng Nghệ An Trại Chủ

– Hình Khu Mộ Tiền Hiền – Bản đồ làng Bảo An.

Đến nay, bản thảo Phổ hệ Tộc Phan 1994 (Phụng sao) đã hoàn thành. Dự kiến sẽ lấy ý kiến đóng góp của bà con thân tộc tại Thanh minh 2011 để hoàn thiện và cho in ấn chính thức.
Một số hình ảnh về bản Phụng sao:

Bản Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994


Bìa ngoài của bản Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994


Một trang bên trong của bản Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994

Tháng Ba 6, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lễ tuyên dương khen thưởng HS -SV học tập tốt năm 2010

Ngày 22/6/2010, Hội Khuyến học tộc Phan Bảo An tại Đà Nẵng tổ chức lễ tuyên dương phát thưởng cho con cháu ở Đà Nẵng đạt thạnh tích học tập tốt năm học 2009 – 2010.

Hình ảnh buổi lễ sau đây:

Tháng Tám 22, 2010 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phan tộc kỷ yếu

phan-toc-ky-yeu

Tháng Ba 28, 2009 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê, Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng

Tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê, Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng vừa tổ chức “Lễ kỷ niệm 450 năm ngày ông Thủy tổ Dương Oai Hầu – Nguyễn Văn Tráng phò chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Nam” vào ngày 21-12-2008 vừa qua.

Theo gia phả của tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê, Thủy tổ là ông Nguyễn Văn Tráng, người Tống Sơn, Thanh Hóa. Năm Mậu Ngọ (năm 1558), ông theo chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, khai canh lập làng đến nay được 450 năm.

Lễ tưởng niệm tiền hiền Dương Oai Hầu Nguyễn Văn Tráng hằng năm tại nhà thờ tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê.

Lễ tưởng niệm tiền hiền Dương Oai Hầu Nguyễn Văn Tráng hằng năm tại nhà thờ tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê.

Theo những thông tin trong gia phả, tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê đã tổ chức tìm về cội nguồn dòng tộc ở Thanh Hoá. Đối chiếu gia phả tộc Nguyễn Văn làng Gia Miêu ở Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, có ghi ông Nguyễn Văn Tráng là ông nội bác của chúa Nguyễn Hoàng. Năm 61 tuổi theo phò trợ chúa Nguyễn Hoàng (25 tuổi) vào Nam mở mang bờ cõi. Nhờ có nhiều công lao, năm 1805 được Hoàng đế Gia Long truy tặng và phong chức Thống chưởng phủ sự, tước Dương Oai Hầu, Chánh vị tiền hiền làng Yến Nê. Cả 2 sắc chỉ của Hoàng đế Gia Long và của Hoàng đế Thiệu Trị ban cho ông Nguyễn Văn Tráng đang được lưu giữ tại gia tộc Nguyễn Văn Yến Nê xác nhận: Trước đây phụng thờ vị thần là tiền hiền Nguyễn Văn Tráng. Truy phong cho là Thống chưởng phủ sự, tước Dương Oai Hầu. Tại gia phả (trang thứ 7) được dịch: Đoan quận công Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) phong cho Đức Tráng là Thượng Phụ Thái sư, mỹ từ Hộ quốc Tí dân…

Kết nối gia phả hai tộc, tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê có thêm 14 đời phát tích từ làng Gia Miêu. Về địa danh Tống Sơn được ghi trong gia phả của tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê đã được Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hóa xác định: “Tống Sơn xưa là một huyện, nay thuộc vùng đất H. Hà Trung và TX Bỉm Sơn”.

Như vậy, Tộc Nguyễn Văn tại Yến Nê có nguồn gốc từ Gia Miêu và ông tổ của họ đã có công giúp chúa Nguyễn Hoàng mở mang bờ cõi. Việc Sở VH-TT&DL TP Đà Nẵng đồng ý cho phép tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê được tổ chức “Lễ kỷ niệm 450 năm ngày ông Thủy tổ Dương Oai Hầu – Nguyễn Văn Tráng phò chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Nam” vào ngày 21-12-2008 vừa qua, chính là sự công nhận công sức đóng góp của Thuỷ tổ tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê trong hành trình mở cõi phương Nam của ông cha..

Tháng Mười Hai 25, 2008 Posted by | 7. Các tộc họ Quảng Nam | %(count) bình luận

Tộc Phạm Làng Cẩm Sa, Xã Điện Nam Bắc Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam

Thuỷ tổ Tộc Phạm Cẩm Sa tên thật là Phạm Tư, người thôn Đa Tốn, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là xã Văn An, Chí Linh, Hải Dương). Từ thời Lê trung hưng, cụ Phạm Tư đã dẫn 4 người đến tiếp quản, xây dựng vùng đất mới (nguyên là đất của Chiêm Thành) khai cơ lập nghiệp, đặt xã hiệu là Cẩm Sa, có ý nói đây là vùng cát đẹp như gấm vóc, màu mỡ.

Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, dưới thời Chúa Nguyên, đầu thế kỷ 18, Cẩm Sa là một địa bàn rất quan trọng, là đầu mối liên lạc giữa Phủ Chúa ở Thuận Hoá với Dinh trấn Quảng Nam ở Thanh Chiêm. Phía đông Cẩm Sa còn có sông Cổ Cò (tức Lộ Cảnh Giang) thông thương từ cửa sông Hàn (Đà Nẵng) đến Cửa Đại Chiêm (Hội An). Theo tài liệu của những nhà truyền đạo, nhà buôn Bồ Đào Nha và Pháp thì đến năm 1891, sông Lộ Cảnh vẫn còn lưu thông bằng thuyền đưa thương khách từ Đà Nẵng đến Hội An và ngược lại.

Nắm vững vị trí quan trọng của Cẩm Sa, Thuỷ Tổ Tộc Phạm cùng với các vị Thuỷ Tổ của các dòng tộc khác đã vượt qua nhiều gian khó, thiên tai và dịch bệnh, kiên trì khai khẩn ruộng đất hoang, khai cơ lập nghiệp, xây dựng cơ đồ, làm cho Cẩm Sa ngày càng trù phú; và đã được Triều đình sắc phong là ” Tiên hiền khai khẩn”, con cháu các vị Thuỷ tổ được phong tước Hầu, tước Bá, như: Tiền cai trị Hiền Lương Hầu Phạm Tất Thắng, Thứ Đội trưởng Mỹ Lương Bá Phạm Thời Danh.

Đến nay, Tộc Phạm Cẩm Sa đã trở thành một tộc lớn gồm 05 phái, phát triển đến 18 đời với hơn 3000 nhân khẩu sinh sống tại địa phương và trên khắp các miền của Tổ quốc.

Con cháu Tộc Phạm Cẩm Sa đã sớm chịu ảnh hưởng, tiếp thu và giác ngộ đi theo cách mạng do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Ví như: ông Phạm Đức Viên, năm 1936 thoát ly gia đình, tham gia cách mạng với tư cách Nhà báo, có bút danh là Thanh Bình, sau Nam Kỳ khởi nghĩa ông bị Pháp bắt đày đi Côn đảo; khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, ông làm Thường vụ Tỉnh uỷ Long Xuyên, và đã hy sinh năm 1947 tại huyện Tân Phú.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, con cháu Tộc Phạm cùng với con cháu của các dòng tộc khác phần lớn đã bám trụ quê hương, một số thoát ly lên khu căn cứ hoặc tập kết ra Bắc. Tất cả đều lao động quên mình, chiến đấu kiên cường, anh dũng hy sinh để bảo vệ và xây dựng quê hương, xây dựng hậu phương vững mạnh, góp phần cùng toàn dân tộc giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Nhiều tấm gương sáng để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng người dân Cẩm Sa, như: Anh Phạm Sự (hậu duệ đời thứ 13) tham gia du kích chống Pháp đã anh dũng hy sinh năm 1947; anh Phạm Nghiêm – huyện uỷ viên huyện Điện Bàn đã anh dũng hy sinh năm 1948; anh Phạm Tấn – xã đội trưởng Điện Nam đã chỉ huy đánh tan một tiểu đoàn lính Mỹ và đã anh dũng hy sinh năm 1973.

Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, xã Điện Nam có 1552 gia đình liệt sĩ, là một trong những địa phương đứng đầu toàn quốc vêôs lượng liệt sĩ và Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó Tộc Phạm Cẩm Sa có 96 người đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp chống Mỹ.

Thế hệ ngày nay, con em Tộc Phạm Cẩm Sa đã có nhiều Tiến sĩ, hàng trăm Kỹ sư, Bác sĩ, vv Nhiều người là cán bộ cao cấp tham gia lãnh đạo chủ chốt của quân đội và chính quyền, được Đảng và Nhà nước tín nhiệm giao trọng trách, như :

  • Trung tướng Phạm Bân, nguyên Chỉ huy trưởng tỉnh đội Quảng Nam – Đà Nẵng,
  • Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, Anh hùng quân đội nhân dân Việt Nam, Phi công tham gia bắn rơi máy bay Mỹ đầu tiên năm 1965 tại miền Bắc,
  • Thiếu tướng Phạm Mai, công tác tại Bộ Công an,
  • Ông Phạm Đức Nam, nguyên Phó Bí thư tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng,
  • Ông Phạm Đức Luật, nguyên Vụ trưởng Bộ Kề hoạch.

Các thành viên của Tộc Phạm Cẩm Sa rất đáng tự hào là đã giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dòng họ, tự hào là đã mang trong mình huyết thống của Tổ tiên Tộc Phạm Cẩm Sa.

Phạm Đức Nam – Hậu duệ đời thứ 15 (theo hophamvietnam.org)

Lăng mộ tổ Tộc Phạm  Cẩm Sa, huyện Điện Bàn , tỉnh Quảng Nam

Tháng Mười Một 10, 2008 Posted by | 7. Các tộc họ Quảng Nam | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nguồn gốc tộc Phan – Bảo An

Ngài PHAN NHƠN BÀN, Thủy Tổ tộc Phan làng Bảo An, tổng Đa Hòa, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam – dưới chính thể CHXHCN Việt Nam là thôn Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – là người làng Ao Giản, phủ Đức Quang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An sau thuộc tỉnh Hà Tĩnh từ đời Minh Mạng thứ 12 ( 1831 ) .

Ngài là cháu đời thứ 6 của Ngài Nghệ An Trại Chủ  làm quan dưới đời nhà Trần. Ngài Nghệ An Trại Chủ sinh ra Ngài Quang và Ngài An. Ngài Đa Lôi là con trai thứ 4 của Ngài Quang. Ngài Đa Lôi sinh Ngài Đa Lư, ngài Đa Lư sinh ngài Nhơn Huyện. Ngài Nhơn Huyện sinh Ngài Nhơn Bàn.

Nhà thờ tộc Phan tại Bảo An, Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam

Nhà thờ tộc Phan tại Bảo An, Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam

Năm Hồng Đức nguyên niên (1470) vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, lấy đất Đồ Bàn bèn sáp nhập đất này với đất Chiêm Động và Cổ Lũy lập đạo thứ 13 là Quảng Nam gồm 3 phủ và 9 huyện, đặt quan trấn thủ và ra lệnh di dân từ các tỉnh Thanh, Nghệ vào khai khẩn vùng đất mới này. Áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông” bao gồm cả lính và dân;  quân lính, ngoài việc giữ gìn trị an  còn hợp với nhân dân khai phá đất đai, mở rộng diện tích canh tác đồng thời lo việc phòng thủ biên cương. Ngài Thủy Tổ Phan Nhơn Bàn lúc bấy giờ đã là một võ quan trong đoàn quân Nam tiến trấn giữ Quảng Nam.

Theo lệnh vua ban, Ngài Phan Nhơn Huyện đưa vợ con vào Nam lập nghiệp. Ngài cùng 2 Ngài Nguyễn Liệt và Ngô Bồ kết làm bằng hữu. Trước tiên, 3 Ngài cùng nhau khai khẩn một vùng đất hoang được chừng 50 mẫu ta, nằm về phía bắc sông Thu Bồn 3 cây số, lập nên ấp Hòa Đa. Sau khi ổn định công việc và đặt người canh thủ, 3 Ngài lại tiếp tục đi tìm vùng đất mới, quyết tâm xây dựng một cơ nghiệp to lớn lưu lại cho con cháu muôn đời về sau. Qua sông Thu bồn, bên bờ phía Nam, ba Ngài tìm được một vùng  hoang vu nhưng đất đai màu mỡ, cây cỏ xanh tốt, khí hậu trong lành, ba ngài dừng lại và bắt tay vào công việc khai hoang vỡ hóa. Vượt qua mọi gian nguy khổ cực, chịu trăm bề thiếu thốn, ba Ngài ra sức khai khẩn thêm được  vùng đất mới này.

Nhưng rồi theo lệnh vua, ngài Nhơn Bàn đưa quân ra Bắc để gia nhập vào đoàn quân dẹp giặc, ổn định bờ cõi phía Tây. Bằng vào những công lao to lớn của Ngài đối với triều đình, với đất nước, vua sắc phong cho Ngài chức Đặc Tấn Phụ  Quốc Thượng tướng quân Cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ với tước hiệu cao quí Địch Nghĩa Bá .

Đất Quảng Nam là cửa ngõ phía Nam của Đại Việt, là đất có đông di dân nhất thời bấy giơ, đồng thời là vùng lãnh thổ trọng yếu giáp ranh với nước Chiêm Thành nên cần phải có một đạo quân hùng mạnh để giữ gìn an ninh cho dân được yên tâm lập nghiệp. Một lần nữa, đoàn quân của Ngài Nhơn Bàn  lại được vua phái vào đây với hai trọng trách :

– Giữ cho tình hình được yên ổn để bảo đãm cho việc khai khẩn đất hoang đạt kết quả tốt .

– Tranh thủ cho quân lính hợp sức với nhân dân ra công khai thác đất đai, mở rộng  phạm vi canh tác.

Sau bao năm xa cách vì mãi theo việc quân, việc nước, khi trở lại đất Quảng, về thăm gia đình thì mới hay thân phụ đã qua đời khi chí nguyện chưa thành, cơ nghiệp còn đang dang dở. Tuy còn ở trong quân ngũ nhưng Ngài vẫn nối chí cha, bèn cùng với hai bạn thân của cha, tiếp tục khai phá mở rộng diện tích đất đai được trên 500 mẫu ta. Một vùng đất rộng lớn đã biến thành ruộng vườn. Đất đai đã có, dân cư đã tăng, ba Ngài Phan, Nguyễn, Ngô xin thành lập xã. Xã hiệu đầu tiên là Phi Phú kiêm cả đất Hòa Đa.

Nhà thờ Ngài Thải thượng Nghệ An trại chủ tại xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Nhà thờ Ngài Thải thượng Nghệ An trại chủ tại xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Trải qua bao triều đại, xã hiệu đã nhiều lần thay đổi. Xã hiệu Bảo An là xã hiệu cuối cùng còn dùng cho đến ngày nay.

Suốt trong chiều dài lịch sử Nam tiến của dân tộc ta, trong công cuộc mở nước và dựng nước, quân dân ta đã đổ không biết bao mồ hôi xương máu mới có được một biên cương rộng lớn như ngày nay. Áp dụng chính sách “động vi binh tịnh vi dân”, Thủy Tổ chúng ta lúc còn làm quan đã hết lòng chăm lo việc nước, việc dân và tích cực trong việc khai hoang lập xã qui dân. Công của Ngài thật vô cùng to lớn. Mỗi tấc đất của Bảo An phần lớn đều do công sức và mồ hôi của các vị Tổ Phan, Nguyễn, Ngô tạo nên. Để tưởng thưởng cho các thần dân có công trong việc qui dân lập xã, năm thứ 9 đời  Khải định ( 1924 ) vua đã ban sắc  Phong Thần cho ba Ngài Phan, Nguyễn, Ngô là “Dục Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần” và sức cho làng Bảo An chăm lo thờ phụng ba Ngài.

Để ca tụng công lao to lớn của Ngài Thủy Tổ hai lần từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc rồi lại vào Nam; để tưởng nhớ công đức cao dày của Ngài trong việc gây dựng cơ đồ truyền lưu cho con cháu, ông cha chúng ta đã khắc hai câu liễn bằng chữ Hán :

Nam thổ trùng lai vị quốc vị dân công mạc đại

Phong sào triệu ứng nhi tôn nhi tử đức miên trường” 

Ngài Phan Nhơn Bàn kết duyên cùng bà Dương thị Thảo, sinh hạ được 7 người con trai và 3 người con gái. Hai người con trai thứ 3 và thứ 7 chết sớm. Năm người con trai còn lại là Thế Tổ của 5 Phái. Ngài được suy tôn là Thủy Tổ tộc Phan Baỏ An và được kể là đời Thứ Nhất. Ngài Phan Nhơn Huyện được suy tôn là Ngài Sơ Tổ.

Ngài Thủy Tổ mất ngày mồng 6 tháng 10 Âm lịch và bà Thủy Tổ mất ngày mồng 4 tháng 7 Âm lịch.

Theo Phan tộc kỷ yếu

Tháng Mười Một 10, 2008 Posted by | 7. Các tộc họ Quảng Nam, a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Xuân Tâm (Phan Hạp 2/14)

Xuân Tâm tên thật là Phan Hạp, sinh ngày 01/01/1916 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Con trai thứ hai của ông Phan Diêu, ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học ở Bảo An.

Ông theo học trường Chaigneau, rồi trường Quốc học Huế và đậu bằng Thành Chung, ông nghỉ học vì gia đình nghèo. Ông làm thông phán tại Kho bạc Tourane. Tháng 8 năm 1945, ông hăng hái tham gia Cách mạng. Sau 1 năm ở quân đội ông được gọi về làm Ngân khố tỉnh Quảng Nam, sau làm  Giám đốc Sở Ngân khố Liên khu 5. Cuối năm 1954 ông tập kết ra Bắc, công tác ở Ban Kinh tế Chính phủ rồi Uy Ban Kế hoạch Nhà Nước cho đến khi về hưu. Nay ông đã trên 80 tuổi sống thanh bạch trong một căn hộ ở phố Thụy Khê, quận Tây Hồ Hà Nội. Ông vẫn thường xuyên  họp mặt với các bạn thơ trong Hội nhà văn, làm thơ đăng trên các báo ở Hà Nội và dịch văn thơ Pháp.

Trước năm 1945, ông đã đăng nhiều bài thơ trong các tạp chí Tân văn, Sông Hương, Bạn đường, Thanh niên, Đoàn kết kháng chiến Liên Khu 5, Văn, Đại đoàn kết,Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam. Năm 1941, ông xuất bản tập thơ ” Lời chim non “, có nhiều bài ông sáng tác từ năm 1935, tức là năm ông 19 tuổi. Trong tập thơ này có bài ” Nghỉ hè ” đã đoạt giải Nhất trong cuộc thi thơ của báo Bạn đường. Từ mùa Hè năm 1941, bài thơ Nghỉ Hè được đưa vào sách giáo khoa văn cấp tiểu học. Tác giả Xuân Tâm và thơ của ông đã được chọn đưa vào tập ” Thi nhân Việt Nam ” của hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân, xuất bản năm 1941. Sau đây xin trích giới thiệu một số bài thơ Xuân Tâm đã sáng tác từ trước Cách mạng tháng 8 đến nay:

Nghỉ Hè

Sung sướng qúa, giờ cuối cùng đã hết,

Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.

Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê

Ôi tất cả mùa Xuân trong muà Hạ.

Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,

Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.

Chờ đêm nay; sáng sớm bước lên tàu,

Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.

Trong khoảnh khắc sách, bài là giấy cũ,

Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trông.

Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,

Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.

Kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót;

Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.

Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi,

Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.

( Lời tim non  )

***

Sáng ấy Hội An

Sáng ấy Hội An bừng tỉnh giấc

Thuyền buồm chen chúc rộn bờ sông.

Nguồn đưa thuyền xuống, khoang đầy chât

Đêm mới vừa qua có kẻ mong.

Vòm xanh hừng đỏ vùng Non Nước,

Sao tắt lưng trời, trăng trốn xa.

Bên thềm nhà cỗ bao người đợi,

Bát sứ Giang tây sắp đựng quà.

Cửa Đại êm êm gởi gió về,

Gió thơm mùi biển đến say mê.

Tóc em phơ phất trong làn gió

Mắt sáng tìm ai dọc vĩa hè.

Nhớ những ngày xưa tôi xuống đây,

Cũng thuyền buồm ấy, cũng sông nầy.

Chùa Cầu vẫn gác đôi chàng khỉ,

Mà Hội An rày đã đổi thay.

Nồm sắp lên rồi, mua bán mau,

Thuyền căng buồm chạy ít chờ lâu.

Chuyện còn dang dở chưa trao hết

Xin hẹn ai về nhớ sáng sau.

( Hương giữa mùa ) 1946

***

Từ ngày chị đi xa

(Gởi chị B. Canada )

Từ ngày chị đi xa,

Mười mấy lần mai nở,

Chiều chiều chị có nhớ

Khói mái bếp quê nhà ?

Quê nhà cách đại dương

Xa nhau ngàn vạn dặm

Không gian nào ngăn cấm

Gió nồm chở nhớ thương.

Từ ngày chị đi xa

Giòng Thu Bồn êm chảy

Gió vờn ngô trên bãi

Hò hái dâu ngân nga.

Xa cội bao người lo

Quê nhà không sung sướng

Thuyền dong buồm chuyển hướng

Sẽ mang về ấm no.

Giận ai đồn ” tắm máu ”

Đưa chị đến trời xa

Chiều chiều chị có nhớ

Khói mái bếp quê nhà.

1988 ( Hoa cuối mùa )

***

Mẹ Tôi [1]

Mẹ tôi mảnh dẻ thấp người

Từng nghèo mà vẫn nụ cười trên môi.

Suốt đời vất vả ngược xuôi,

Nuôi năm con được nên người lớn khôn.

Từ bình minh đến hoàng hôn,

Ngày ngày cực nhọc đâu còn nghỉ ngơi.

Mưa dầm thấm ướt áo tơi,

Rét run thấm cả vào người Mẹ tôi.

Giờ đây nhớ lại bồi hồi,

Nhớ trời xứ Huế, nhớ thời xa xưa.

Thương Mẹ biết mấy cho vừa,

Bạc đầu nhớ Mẹ vẫn chưa hết buồn.

1989 ( Hoa cuối mùa )

Theo Phan Tộc kỷ yếu

[1] Người Mẹ tảo tần nuôi con ăn học  : Ông bà Phan Diêu bán ngôi nhà và một sào đất vườn ở quê nhà Bảo An, đưa tất cả gia đình ra Huế tìm kế sinh nhai, tạo điều kiện thuận lợi nuôi các con ăn học thành tài. Ông bà dựng một ngôi nhà tranh bên trường Quốc Học, nấu cơm tháng cho học sinh trọ học, nuôi các con gồm 3 trai là Phan Lai, Phan Hạp, Phan Viên và một gái là Phan Thị Hồng Hạnh ăn học nên người ( Xem  mục Học vị và Chức tước từ Đời thứ 14-17 ). Ông bà Phan Diêu là một tấm gương hiếu học sáng ngời tiêu biểu trong nhiều gia đình hiếu học của tộc Phan.

Tháng Mười 16, 2008 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?