XỨ QUẢNG

Giỗ tổ Phái Nhì năm 2011 tại Bảo An













Tháng Tám 21, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hình ảnh Lễ khen thưởng HSSV giỏi năm 2011 ở Bảo An







Tháng Tám 15, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hình ảnh Lễ khen thưởng HSSV giỏi năm 2011







Tháng Tám 15, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | %(count) bình luận

Hoàn thành bản thảo Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994

Năm Giáp Tuất 1994, Phổ hệ Phan tộc, do Ban Tục Biên Phổ Hệ đã hoàn thành. Phổ hệ 1994 lấy Phổ Hệ năm 1891 làm cơ sở từ đời thứ Nhất đến đời thứ Chín và chép tiếp từ đời thứ 10 đến hết đời thứ 13.
Trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn sau 1975, Phổ Hệ được chép tay trên giấy kẻ ô vuông chất lượng kém. Theo thời gian, đến nay Phổ Hệ đã bị đứt gáy, giấy ố vàng, nhiều trang đã mục rách.

Trước thực tế đó, Tộc đã thành lập Ban Phụng Sao Phổ Hệ 1994 với thành phần là các ông Phan Đức Mỹ tức Nam Hà, Phái Ba đời thứ 14, làm Trưởng Ban, ông Phan Văn Thê, Phái Tư đời thứ 14, biên soạn và làm bản vi tính, ông Phan Nam, Phái Nhì đời thứ 15, phụ trách ấn hành

Trong bản Phụng Sao này, Ban phụng sao chép lại nguyên văn các Đời, chỉ chỉnh sửa một vài chỗ chưa được rõ ràng và đã lược bỏ:

– Một vài bài mang tính thời sự trong thời điểm 1994.

– Tông Đồ Tộc Phan của mỗi Phái. Chỉ giữ lại Tông Đồ Tộc Phan từ Đời Thứ Nhất đến Đời thứ Nhì, là đời phân rõ 5 Phái .

– Bản Cung Lục Thực Lục

Đồng thời thêm vào các bài viết:

– Nguồn gốc Tộc Phan

– Sắc Phong Tiền Hiền
– Tông đồ Nguồn gốc Tộc Phan: Từ Ngài Nghệ An Trại Chủ đến Ngài Tiền Hiền Tộc Phan Bảo An.

– Hình Nhà Thờ Tộc Phan tại Bảo An

– Hình Điện thờ Ngài Thái Thượng Nghệ An Trại Chủ

– Hình Khu Mộ Tiền Hiền – Bản đồ làng Bảo An.

Đến nay, bản thảo Phổ hệ Tộc Phan 1994 (Phụng sao) đã hoàn thành. Dự kiến sẽ lấy ý kiến đóng góp của bà con thân tộc tại Thanh minh 2011 để hoàn thiện và cho in ấn chính thức.
Một số hình ảnh về bản Phụng sao:

Bản Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994


Bìa ngoài của bản Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994


Một trang bên trong của bản Phụng sao Phổ hệ tộc Phan 1994

Tháng Ba 6, 2011 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lễ tuyên dương khen thưởng HS -SV học tập tốt năm 2010

Ngày 22/6/2010, Hội Khuyến học tộc Phan Bảo An tại Đà Nẵng tổ chức lễ tuyên dương phát thưởng cho con cháu ở Đà Nẵng đạt thạnh tích học tập tốt năm học 2009 – 2010.

Hình ảnh buổi lễ sau đây:

Tháng Tám 22, 2010 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phan tộc kỷ yếu

phan-toc-ky-yeu

Tháng Ba 28, 2009 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nguồn gốc tộc Phan – Bảo An

Ngài PHAN NHƠN BÀN, Thủy Tổ tộc Phan làng Bảo An, tổng Đa Hòa, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam – dưới chính thể CHXHCN Việt Nam là thôn Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – là người làng Ao Giản, phủ Đức Quang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An sau thuộc tỉnh Hà Tĩnh từ đời Minh Mạng thứ 12 ( 1831 ) .

Ngài là cháu đời thứ 6 của Ngài Nghệ An Trại Chủ  làm quan dưới đời nhà Trần. Ngài Nghệ An Trại Chủ sinh ra Ngài Quang và Ngài An. Ngài Đa Lôi là con trai thứ 4 của Ngài Quang. Ngài Đa Lôi sinh Ngài Đa Lư, ngài Đa Lư sinh ngài Nhơn Huyện. Ngài Nhơn Huyện sinh Ngài Nhơn Bàn.

Nhà thờ tộc Phan tại Bảo An, Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam

Nhà thờ tộc Phan tại Bảo An, Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam

Năm Hồng Đức nguyên niên (1470) vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, lấy đất Đồ Bàn bèn sáp nhập đất này với đất Chiêm Động và Cổ Lũy lập đạo thứ 13 là Quảng Nam gồm 3 phủ và 9 huyện, đặt quan trấn thủ và ra lệnh di dân từ các tỉnh Thanh, Nghệ vào khai khẩn vùng đất mới này. Áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông” bao gồm cả lính và dân;  quân lính, ngoài việc giữ gìn trị an  còn hợp với nhân dân khai phá đất đai, mở rộng diện tích canh tác đồng thời lo việc phòng thủ biên cương. Ngài Thủy Tổ Phan Nhơn Bàn lúc bấy giờ đã là một võ quan trong đoàn quân Nam tiến trấn giữ Quảng Nam.

Theo lệnh vua ban, Ngài Phan Nhơn Huyện đưa vợ con vào Nam lập nghiệp. Ngài cùng 2 Ngài Nguyễn Liệt và Ngô Bồ kết làm bằng hữu. Trước tiên, 3 Ngài cùng nhau khai khẩn một vùng đất hoang được chừng 50 mẫu ta, nằm về phía bắc sông Thu Bồn 3 cây số, lập nên ấp Hòa Đa. Sau khi ổn định công việc và đặt người canh thủ, 3 Ngài lại tiếp tục đi tìm vùng đất mới, quyết tâm xây dựng một cơ nghiệp to lớn lưu lại cho con cháu muôn đời về sau. Qua sông Thu bồn, bên bờ phía Nam, ba Ngài tìm được một vùng  hoang vu nhưng đất đai màu mỡ, cây cỏ xanh tốt, khí hậu trong lành, ba ngài dừng lại và bắt tay vào công việc khai hoang vỡ hóa. Vượt qua mọi gian nguy khổ cực, chịu trăm bề thiếu thốn, ba Ngài ra sức khai khẩn thêm được  vùng đất mới này.

Nhưng rồi theo lệnh vua, ngài Nhơn Bàn đưa quân ra Bắc để gia nhập vào đoàn quân dẹp giặc, ổn định bờ cõi phía Tây. Bằng vào những công lao to lớn của Ngài đối với triều đình, với đất nước, vua sắc phong cho Ngài chức Đặc Tấn Phụ  Quốc Thượng tướng quân Cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ với tước hiệu cao quí Địch Nghĩa Bá .

Đất Quảng Nam là cửa ngõ phía Nam của Đại Việt, là đất có đông di dân nhất thời bấy giơ, đồng thời là vùng lãnh thổ trọng yếu giáp ranh với nước Chiêm Thành nên cần phải có một đạo quân hùng mạnh để giữ gìn an ninh cho dân được yên tâm lập nghiệp. Một lần nữa, đoàn quân của Ngài Nhơn Bàn  lại được vua phái vào đây với hai trọng trách :

– Giữ cho tình hình được yên ổn để bảo đãm cho việc khai khẩn đất hoang đạt kết quả tốt .

– Tranh thủ cho quân lính hợp sức với nhân dân ra công khai thác đất đai, mở rộng  phạm vi canh tác.

Sau bao năm xa cách vì mãi theo việc quân, việc nước, khi trở lại đất Quảng, về thăm gia đình thì mới hay thân phụ đã qua đời khi chí nguyện chưa thành, cơ nghiệp còn đang dang dở. Tuy còn ở trong quân ngũ nhưng Ngài vẫn nối chí cha, bèn cùng với hai bạn thân của cha, tiếp tục khai phá mở rộng diện tích đất đai được trên 500 mẫu ta. Một vùng đất rộng lớn đã biến thành ruộng vườn. Đất đai đã có, dân cư đã tăng, ba Ngài Phan, Nguyễn, Ngô xin thành lập xã. Xã hiệu đầu tiên là Phi Phú kiêm cả đất Hòa Đa.

Nhà thờ Ngài Thải thượng Nghệ An trại chủ tại xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Nhà thờ Ngài Thải thượng Nghệ An trại chủ tại xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Trải qua bao triều đại, xã hiệu đã nhiều lần thay đổi. Xã hiệu Bảo An là xã hiệu cuối cùng còn dùng cho đến ngày nay.

Suốt trong chiều dài lịch sử Nam tiến của dân tộc ta, trong công cuộc mở nước và dựng nước, quân dân ta đã đổ không biết bao mồ hôi xương máu mới có được một biên cương rộng lớn như ngày nay. Áp dụng chính sách “động vi binh tịnh vi dân”, Thủy Tổ chúng ta lúc còn làm quan đã hết lòng chăm lo việc nước, việc dân và tích cực trong việc khai hoang lập xã qui dân. Công của Ngài thật vô cùng to lớn. Mỗi tấc đất của Bảo An phần lớn đều do công sức và mồ hôi của các vị Tổ Phan, Nguyễn, Ngô tạo nên. Để tưởng thưởng cho các thần dân có công trong việc qui dân lập xã, năm thứ 9 đời  Khải định ( 1924 ) vua đã ban sắc  Phong Thần cho ba Ngài Phan, Nguyễn, Ngô là “Dục Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần” và sức cho làng Bảo An chăm lo thờ phụng ba Ngài.

Để ca tụng công lao to lớn của Ngài Thủy Tổ hai lần từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc rồi lại vào Nam; để tưởng nhớ công đức cao dày của Ngài trong việc gây dựng cơ đồ truyền lưu cho con cháu, ông cha chúng ta đã khắc hai câu liễn bằng chữ Hán :

Nam thổ trùng lai vị quốc vị dân công mạc đại

Phong sào triệu ứng nhi tôn nhi tử đức miên trường” 

Ngài Phan Nhơn Bàn kết duyên cùng bà Dương thị Thảo, sinh hạ được 7 người con trai và 3 người con gái. Hai người con trai thứ 3 và thứ 7 chết sớm. Năm người con trai còn lại là Thế Tổ của 5 Phái. Ngài được suy tôn là Thủy Tổ tộc Phan Baỏ An và được kể là đời Thứ Nhất. Ngài Phan Nhơn Huyện được suy tôn là Ngài Sơ Tổ.

Ngài Thủy Tổ mất ngày mồng 6 tháng 10 Âm lịch và bà Thủy Tổ mất ngày mồng 4 tháng 7 Âm lịch.

Theo Phan tộc kỷ yếu

Tháng Mười Một 10, 2008 Posted by | 7. Các tộc họ Quảng Nam, a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Xuân Tâm (Phan Hạp 2/14)

Xuân Tâm tên thật là Phan Hạp, sinh ngày 01/01/1916 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Con trai thứ hai của ông Phan Diêu, ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học ở Bảo An.

Ông theo học trường Chaigneau, rồi trường Quốc học Huế và đậu bằng Thành Chung, ông nghỉ học vì gia đình nghèo. Ông làm thông phán tại Kho bạc Tourane. Tháng 8 năm 1945, ông hăng hái tham gia Cách mạng. Sau 1 năm ở quân đội ông được gọi về làm Ngân khố tỉnh Quảng Nam, sau làm  Giám đốc Sở Ngân khố Liên khu 5. Cuối năm 1954 ông tập kết ra Bắc, công tác ở Ban Kinh tế Chính phủ rồi Uy Ban Kế hoạch Nhà Nước cho đến khi về hưu. Nay ông đã trên 80 tuổi sống thanh bạch trong một căn hộ ở phố Thụy Khê, quận Tây Hồ Hà Nội. Ông vẫn thường xuyên  họp mặt với các bạn thơ trong Hội nhà văn, làm thơ đăng trên các báo ở Hà Nội và dịch văn thơ Pháp.

Trước năm 1945, ông đã đăng nhiều bài thơ trong các tạp chí Tân văn, Sông Hương, Bạn đường, Thanh niên, Đoàn kết kháng chiến Liên Khu 5, Văn, Đại đoàn kết,Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam. Năm 1941, ông xuất bản tập thơ ” Lời chim non “, có nhiều bài ông sáng tác từ năm 1935, tức là năm ông 19 tuổi. Trong tập thơ này có bài ” Nghỉ hè ” đã đoạt giải Nhất trong cuộc thi thơ của báo Bạn đường. Từ mùa Hè năm 1941, bài thơ Nghỉ Hè được đưa vào sách giáo khoa văn cấp tiểu học. Tác giả Xuân Tâm và thơ của ông đã được chọn đưa vào tập ” Thi nhân Việt Nam ” của hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân, xuất bản năm 1941. Sau đây xin trích giới thiệu một số bài thơ Xuân Tâm đã sáng tác từ trước Cách mạng tháng 8 đến nay:

Nghỉ Hè

Sung sướng qúa, giờ cuối cùng đã hết,

Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.

Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê

Ôi tất cả mùa Xuân trong muà Hạ.

Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,

Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.

Chờ đêm nay; sáng sớm bước lên tàu,

Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.

Trong khoảnh khắc sách, bài là giấy cũ,

Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trông.

Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,

Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.

Kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót;

Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.

Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi,

Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.

( Lời tim non  )

***

Sáng ấy Hội An

Sáng ấy Hội An bừng tỉnh giấc

Thuyền buồm chen chúc rộn bờ sông.

Nguồn đưa thuyền xuống, khoang đầy chât

Đêm mới vừa qua có kẻ mong.

Vòm xanh hừng đỏ vùng Non Nước,

Sao tắt lưng trời, trăng trốn xa.

Bên thềm nhà cỗ bao người đợi,

Bát sứ Giang tây sắp đựng quà.

Cửa Đại êm êm gởi gió về,

Gió thơm mùi biển đến say mê.

Tóc em phơ phất trong làn gió

Mắt sáng tìm ai dọc vĩa hè.

Nhớ những ngày xưa tôi xuống đây,

Cũng thuyền buồm ấy, cũng sông nầy.

Chùa Cầu vẫn gác đôi chàng khỉ,

Mà Hội An rày đã đổi thay.

Nồm sắp lên rồi, mua bán mau,

Thuyền căng buồm chạy ít chờ lâu.

Chuyện còn dang dở chưa trao hết

Xin hẹn ai về nhớ sáng sau.

( Hương giữa mùa ) 1946

***

Từ ngày chị đi xa

(Gởi chị B. Canada )

Từ ngày chị đi xa,

Mười mấy lần mai nở,

Chiều chiều chị có nhớ

Khói mái bếp quê nhà ?

Quê nhà cách đại dương

Xa nhau ngàn vạn dặm

Không gian nào ngăn cấm

Gió nồm chở nhớ thương.

Từ ngày chị đi xa

Giòng Thu Bồn êm chảy

Gió vờn ngô trên bãi

Hò hái dâu ngân nga.

Xa cội bao người lo

Quê nhà không sung sướng

Thuyền dong buồm chuyển hướng

Sẽ mang về ấm no.

Giận ai đồn ” tắm máu ”

Đưa chị đến trời xa

Chiều chiều chị có nhớ

Khói mái bếp quê nhà.

1988 ( Hoa cuối mùa )

***

Mẹ Tôi [1]

Mẹ tôi mảnh dẻ thấp người

Từng nghèo mà vẫn nụ cười trên môi.

Suốt đời vất vả ngược xuôi,

Nuôi năm con được nên người lớn khôn.

Từ bình minh đến hoàng hôn,

Ngày ngày cực nhọc đâu còn nghỉ ngơi.

Mưa dầm thấm ướt áo tơi,

Rét run thấm cả vào người Mẹ tôi.

Giờ đây nhớ lại bồi hồi,

Nhớ trời xứ Huế, nhớ thời xa xưa.

Thương Mẹ biết mấy cho vừa,

Bạc đầu nhớ Mẹ vẫn chưa hết buồn.

1989 ( Hoa cuối mùa )

Theo Phan Tộc kỷ yếu

[1] Người Mẹ tảo tần nuôi con ăn học  : Ông bà Phan Diêu bán ngôi nhà và một sào đất vườn ở quê nhà Bảo An, đưa tất cả gia đình ra Huế tìm kế sinh nhai, tạo điều kiện thuận lợi nuôi các con ăn học thành tài. Ông bà dựng một ngôi nhà tranh bên trường Quốc Học, nấu cơm tháng cho học sinh trọ học, nuôi các con gồm 3 trai là Phan Lai, Phan Hạp, Phan Viên và một gái là Phan Thị Hồng Hạnh ăn học nên người ( Xem  mục Học vị và Chức tước từ Đời thứ 14-17 ). Ông bà Phan Diêu là một tấm gương hiếu học sáng ngời tiêu biểu trong nhiều gia đình hiếu học của tộc Phan.

Tháng Mười 16, 2008 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bài thơ Khuyến học – Phan Khôi

Em ơi, gà đã gáy dòn,

Láng giềng đã dậy, em còn ngủ sao ?

Ngoài đường kẻ búa, người dao,

Kẻ vô xưởng máy, người vào xưởng in.

Trên cành rủ rỉ đàn chim,

Kêu nhau làm tổ, kiếm tìm bọ sâu.

Muôn ngàn sinh vật đua nhau,

Ở trên thế giới địa cầu khác chi.

Mạnh thì được, yếu thì suy,

Em ơi mau dậy mà đi đến trường.

Tập rèn máy móc, văn chương

Y khoa cứu thế, công thương giúp đời.

Thử xem ở các nước ngoài,

Tìm dò đáy biển, lặn chui dưới hầm.

Tập trồng dâu, tập nuôi tằm,

Học đi dưới nước, học cầm máy bay.

Nước mình chẳng được mảy may,

Thấy người ta, chỉ nuốt cay ngậm sầu.

Như ta cũng mắt cũng đầu,

Cũng tay chân ấy, cũng dày trí khôn.

Làm người phải biết tự tôn,

Học như Ưng Đạo, Lý Bôn mới là.

Hãy xem các nước người ta,

Thợ thuyền, lính tráng tài ba tuyệt vời.

Em thời biếng học, ham chơi

Sách đèn xa lánh, gần nơi rươụ chè

Cùng nhau đua bạn, đua bè,

Tối trong trường hát, sáng về ngủ trưa.

Thấy em, nhớ chuyện thưở xưa :

Sừng trâu đeo sách nào thua kém gì ? [1]

Nào người gánh củi đi thi,[2]

Nào người bắt đóm học bài thâu canh.[3]

Khuyên em cái bả lợi danh,

Vào lòn ra cúi, công khanh coi thường.

Dẫu mà mắm muối, dưa tương,

Đất ta, ta cấy, ta bừa tự ta.

Em ơi, phải biết nghĩ xa,

Học rồi giúp nước, giúp nhà mới nên.

Chí trai phải giữ cho bền,

Chớ vì thế lực đồng tiền mà say.

Bình minh đã rõ ban ngày,

Mau mau thức dậy kẻo chầy, em ơi !

( Bài này Phan Khôi sáng tác sau khi ông ra tù năm 1914 về quê nhà dạy học).

[1] Ninh Thích người nước Vệ, nhà rất nghèo đi chăn trâu mà học. Đang chăn trâu gặp Quản Trọng, tướng quốc nước Tề. Quản Trọng biết ông là người có tài bèn tiến cử lên vua Tề Hoàn Công. Vua phong ông làm quan Đại phu cùng Quản Trọng  trông coi việc nước.

[2] Chu Mãi Thần, đời Hán, lúc còn hàn vi phải đốn củi để độ nhật theo đuổi việc học. Sau làm nên  nghiệp lớn.

[3] Vũ Tử Xa Dận, đời Tấn, nhà nghèo nhưng rất ham học, ban đêm không có dầu thắp đèn nên phải bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng mà học.

Tháng Mười 2, 2008 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hội Khuyến học tộc Phan Bảo An chăm lo khuyến học, khuyến tài

Hội khuyến học tộc Phan Bảo An là một trong những Hội Khuyến học của tỉnh Quảng Nam được thành lập từ rất sớm. Trong điều kiện nguồn quỹ hội rất eo hẹp, tình hình kinh tế chung của bà con ở quê nhà còn chật vật, điều kiện học tập của con cháu không có nhiều thuận lợi như ở thành phố, năm qua Hội Khuyến học Bảo An đã thực hiện được nhiều hoạt động chăm lo công tác khuyến học, khuyến tài cho con cháu với tổng số tiền là 13.600.00 đồng.

Tôn vinh con cháu họ Phan Bảo An có thành tích học tập xuất sắc

Ngày 04/4/2008, trong ngày tế lễ thanh minh năm Mậu Tý của tộc tại Bảo An, Hội khuyến học đã tổ chức tôn vinh và khen thưởng cho các cháu họ Phan có thành tích học tập xuất sắc sau đây:

1.        Phan Minh Đức, đời 15 phái 2, con ông Phan Long, cháu nội ông Thủ Thưởng, đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ kỹ thuật loại giỏi tại trường Chulalong Korn, Bangkok, Thái Lan vào tháng 6/2007, hiện là giảng viên trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng.

2.        Phan Bảo An, đời 15 phái 2, con ông Phan Như Lâm, cháu nội ông Mười Mạch, đã bảo vệ thành công luận án thạc sĩ kiến trúc loại giỏi tại trường Charles de Gaulle thuộc Đại học Lille, Pháp, hiện đang tiếp tục làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Pháp.

3.        Phan Hoài Sơn, đời 16 phái 2, con ông Phan Hoài Nguyên, cháu nội ông Phan Hạp (nhà thơ Xuân Tâm), đã bảo vệ thành công luận án thạc sĩ ngành điện tại Đà học Đà Nẵng.

4.        Phan Thị Tố Trinh, đời 15 phái 4, con ông Phan Văn Hường, bảo vệ thành công luận án thạc sĩ âm nhạc ngành violon tại nhạc viện Hà Nội.

5.        Phan Thị Thanh Thảo, đời 16 phái 1, con ông Phan Tuấn, trưởng tộc, bảo vệ luận văn tốt nghiệp ngành kinh tế loại giỏi, hiện là giảng viên Khoa Kinh tế Trường Đại học Duy Tân Đà Nẵng.

Phan MInh Đức nh��n bằng Tiến sĩ kỹ thu��t do Công chúa Thái Lan trao tại Đại học Chulalong Korn, Bangkok

Phan MInh Đức nhận bằng Tiến sĩ kỹ thuật do Công chúa Thái Lan trao tại Đại học Chulalong Korn, Bangkok

Trợ cấp cho con cháu đỗ vào đại học, cao đẳng, học sinh giỏi

Tại lễ thành minh này và tại Lễ Tuyên dương khen thưởng học sinh giỏi năm 2007 – 2008, Hội Khuyến học đã trợ cấp cho các cháu ở Bảo An đã thi đỗ đại học, cao đẳng năm học 2007 – 2008, nhằm động viên các cháu học tập tốt như sau:

03 cháu thi đỗ vào Đại học:

1.     Phan Văn Quang, đời 16 phái 5, Đại học Thể dục thể thao TPHCM.

2.     Phan Minh Hiếu, đời 15 phái 3, Đại học Bách Khoa Đà Nẵng.

3.     Phan Thị Thuý, đời 15 phái 5, Đại học Kinh tế Đà Nẵng

07 các cháu thi đỗ vào Cao đẳng:

1.     Phan Thị Thuỷ, đời 16 phái 4.

2.     Phan Thị Huyền Sương, đời 16 phái 5.

3.     Phan Thị Thanh Bình, đời 16 phái 5.

4.     Phan Nguyễn Hồng Huyền, đời 15 phái 2.

5.     Phan Thạch, đời 15 phái 5.

6.     Phan Thị Phước, đời 16 phái 4.

7.     Phan Thị Thu, đời 16 phái 2.

10 cháu học sinh giỏi các trường Tiểu học Phan Thanh, trường Trung học cơ sở Trần Cao Vân, trường Trung học phổ thông Phạm Phú Thứ:

1.     Phan Phước Thành, đời 16 phái 5, lớp 4.

2.     Phan Tấn Hương, đời 17 phái 2, lớp 5.

3.     Phan Việt Đức, đời 17 phái 2, lớp 5.

4.     Phan Xuân Trí, đời 18 phái 2, lớp 6.

5.     Phan Thị Phương Thảo, đời 15 phái 2, lớp 6.

6.     Phan Thị Mỹ Dung, đời 17 phái 2, lớp 8.

7.     Phan Thị Anh Phương, đời 16 phái 2, lớp 9.

8.     Phan Thị Yến, đời 15 phái 5, lớp 9.

9.     Phan Thị Vân, đời 17 phái 2, lớp 11.

10.   Phan Thị Lành, đời 16 phái 4, lớp 11.

Trợ cấp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn

Năm qua, gia đình ông Phan Thép, ở Bảo An, bị lũ lụt cuốn trôi 4 con bò, gia đình gần như lâm vào hoàn cảnh khánh kiệt, hai con đang học phổ thông có nguy cơ phải nghỉ học sớm. Trước tình trang bức thiết này, để động viên và hỗ trợ gia đình tiếp tục cho cháu đến trường, Hội Khuyến học đã vận động bà Phan Thị Hoa, đời 14 phái 3, trú tại 133, Lê Lợi Đà Nẵng, nhận trợ cấp cho các cháu với số tiền 600.000 đồng/năm đến hết bậc học phổ thông.

Có được những hoạt động trên đây, ngoài sự nổ lực của Hội Khuyến học, còn có sự ủng hộ tài trợ mạnh mẽ của bà con xa quê. Hội Khuyến học hoan nghênh và cảm ơn bà Phan Thị Hoa 3/14 ở Đà Nẵng, ông Phan Minh Thảo 3/14, ông Phan Đức Bình 3/14 ở TPHCM và tất cả bà con khác đã tham gia cùng Hội trong sự nghiệp khuyến học, khuyến tài cho con cháu họ Phan.

Phan Long, đời 14 phái 2

Tháng Mười 2, 2008 Posted by | a. Tộc Phan Bảo An | Bạn nghĩ gì về bài viết này?