XỨ QUẢNG

Phong Nha Quảng Bình 11/2009




Tháng Năm 7, 2011 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Khai mạc Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội

Sáng nay, ngày 01/10/2010 tại thủ đô Hà Nội, Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội chính thức diễn ra tại vườn hoa Lý Thái Tổ bên hồ Hoàn Kiếm. Chương trình khai mạc có chủ đề “Thăng Long – Hà Nội: Thành phố lịch sử truyền thống anh hùng”

Trong khí thu Hà Nội nắng đẹp, đúng 8 giờ sáng, hiệu lệnh “Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long đã vang lên mở màn cho những ngày đại lễ. Sau màn trình diễn nhạc lễ của dàn trống, chiêng, Chủ tịch Quốc hội nước đã thắp lửa lên đài lửa, ngọn lửa sẽ cháy liên tục trong 10 ngày Đại lễ. 

Chủ tịch Quốc hội thắp ngọn lửa thiêng. Ảnh: Hoàng Hà.

Toàn cảnh sân khấu khai mạc Đại lễ
Toàn cảnh sân khấu khai mạc Đại lễ. Ảnh: bee.net.vn

Tiếp lễ chào cờ và phát biểu khai mạc Lễ của lãnh đạo thủ đô Hà Nội, bà Irina Bokova, Tổng Giám đốc UNESCO, đã  trao bằng Di sản văn hoá thế giới khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long cho lãnh đạo Thành phố Hà Nội.

Bà Irina Bokova, Tổng giám đốc UNESCO và bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam đã trao bằng chứng nhận Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thể giới cho ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND Hà Nội. Ảnh: Hoàng Hà.

Kết thúc phần Lễ là nghi thức thả chim bồ câu vào lúc 9h30. Quả địa cầu lớn đặt bên trái sân khấu từ từ nở sau cánh gà, 1000 con chim bồ câu tung cánh bay lên trời thu Hà Nội.

Hàng nghìn con chim bồ câu được thả lên trời. Ảnh: Bee.net.vn

Tiếp đó là chương trình biểu diễn nghệ thuật chào mừng khai mạc Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

 

Hình ảnh chương trình nghệ thuật chào mừng lễ khai mạc. Ảnh Thuận Thắng

Sau chương trình nghệ thuật tại Sân khấu chính, phần hội sẽ diễn ra tại 5 sân khấu đặt xung quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám.

Phan Phúc tổng hợp 

Ảnh: các báo TN, TT, Exp, Bee.net.vn;

 

Tháng Mười 1, 2010 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những làng “nói khoác” ở Việt Nam

Theo thống kê, đất nước ta có hàng chục làng cười từ Nam đến Bắc. Mỗi làng có một đặc trưng riêng của văn hóa vùng miền. Chung quy lại, đó là những câu chuyện trào tiếu gây cười đến sảng khoái, thể hiện cuộc sống đa dạng, đa phong cách và cuộc sống tự do, lạc quan yêu đời của nhân dân.

Làng nói khoác Văn Lang

Văn Lang thuộc xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Đi theo Quốc lộ 32 chừng 75 km là đến đất Tam Nông, tôi tìm về với mảnh đất nổi tiếng này để biết thêm những giai thoại độc đáo mà tức cười. Một miền trung du Bắc bộ đầy màu xanh của lá cọ. Con người ở đây bình dị, gắn bó với những cây cọ. Đến cả mái nhà cũng chủ yếu lợp bằng cọ, nằm xen với những quả đồi thấp. Đi vòng vèo vài con đường, chúng tôi nhận ra ngôi làng vẫn nằm trong một vùng nguyên sơ, nghèo nàn, ruộng nương hạn hẹp. Qua giới thiệu, chúng tôi được đám trẻ đưa đến nhà cụ Hán Văn Sinh, một người được coi là “Đại gia” của làng khoác. Cụ kể “Nơi đây được coi là khởi nguồn của của nền văn hoá lúa nước. Ngày đó, tất cả những sản vật nông nghiệp của làng đều tốt cả. Ai muốn cái gì tốt thì đều đến Văn Lang, gà tốt đến, xôi dẻo đến, cá to đến… Từ đó người dân cứ nói khoác các sản phẩm của mình lên nhằm ngợi ca những cái mình làm ra”

Một người dân làng Văn Lang đang trổ tài nói khoác trước gia đình mình

Kỳ thực, cuộc sống của người Văn Lang đã làm nên cả một kho truyện cười độc đáo. Có chuyện một người dắt củ sắn vào cạp quần, về đến nhà đã bở tung. Chuyện mớ rau muống to đến nỗi trèo lên nhìn thấy cột cờ Hà Nội…. Bằng sự khéo léo tài tình, người dân đã biết chuyển những đề tài tưởng như rất đời thường tưởng như chẳng có gì đáng nói như củ sắn củ khoai, mớ rau…thành hấp dẫn. Nguyên do thế nào? Tôi được cụ Sinh bảo rằng: “Cũng bởi thủ pháp phóng đại gây cười, cách kết thúc bất ngờ, ngôn ngữ nặng, khó nghe, lắm lúc ê a. Từ đó người ta đặt cho những cái biệt danh ngồ ngộ: Văn Lang cả làng nói khoác, Làng nói trạng…”

Kho chuyện cười của Văn Lang đã rất phong phú đa dạng. So với những làng cười khác như Vĩnh Hoàng (Quảng Trị); Trúc Ổ (Sơn Dương-Tuyên Quang); Đồng Sài (Bắc Ninh), truyện cười của Văn Lang đa dạng hơn nhiều, cả về tính dí dỏm lẫn đề tài. Người ta sẽ cười vì: Văn Lang có một con lươn, thịt thì nướng chả còn xương đẽo cày.

Những câu chuyện như: Tay ải tay ai, Con ếch cốm, Bác đi mua ‘nỏ’ lắm, Đỉa trâu, Củ sắn qua đường 24, Bưởi rụng chết trâu…. đầy hài hước đều xuất phát từ làng này.

Chuyện nói khoác của Văn Lang bó hẹp trong phạm vi nhỏ. Thường được lấy từ những sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất của người dân. Cái điêu ngoa của họ không đáng ghét. Nó mang đến nụ cười, sự sảng khoái, tạo nên sự lạc quan trước những hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn. Nên cái điêu ngoa ấy là đáng yêu. Cũng có những chuyện cười để bài trừ, đả kích những thói hư tật xấu của xã hội. Và vì thế mà chẳng bao giờ người dân dừng lại được những câu truyện đó. Trên cánh đồng gặt, vụ cấy hái, ngoài chợ, lúc nghỉ ngơi, bất kể lúc nào người dân cũng có thể nói để cười, để chia sẻ cho vơi bớt mệt mỏi. Điều đó chứng tỏ rằng “di sản” của họ vẫn được bảo tồn.

Làng trạng Vĩnh Hoàng

Làng trạng Vĩnh Hoàng thuộc xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Năm 1949, xã Vĩnh Hoàng được thành lập, trong đó có ba thôn là làng Huỳnh Công Đông, Huỳnh Công Tây, Huỳnh Công Nam. Nên chuyện trạng cả ba làng còn được gọi là chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Nay xã Vĩnh Hoàng đổi thành xã Vĩnh Tú. Năm 2006, khu du lịch Thủy Ứ của làng trạng được khai trương, cách thị xã Đông Hà (Quảng Trị) chừng 50 km về phía bắc. Khu du lịch rộng, với những hồ nước xanh trong ngăn ngắt, những ngôi nhà mái lá đơn sơ lợp cọ dùng để cho khách nghỉ ngơi và có thể nghe… nói trạng. Ngoài ra du khách còn có thể câu cá thư giãn, dạo thuyền, tắm nóng lạnh…

Làng trạng Vĩnh Hoàng làm du lịch 

Khu du lịch hiện nay do Hội Người khuyết tật xã Vĩnh Tú quản lý. Tiền thu được xung vào quĩ hội. Chúng tôi được chị Nguyễn Thị Hợi kể cho nghe câu chuyện thú vị thế này: có một người đi câu cá, bắt một con cóc làm mồi. Đến hồ, ông lấy đà vút dây câu một cái thì không ngờ dây câu văng sang bờ hồ phía bên kia. Trong lúc không biết làm cách nào để gỡ lưỡi câu đang mắc vào bụi thì một con chim cuốc nhảy ra ăn con cóc. Khi đang kéo cuốc thì con chồn từ trong bụi rậm lao ra ngoạm con cuốc vào miệng, mắc phải lưỡi câu. Mừng quá ông kéo dây câu thì… “bụp”, một con cá đô (lóc) từ hồ lao lên đớp trọn con chồn. Con cá to quá, bà con xúm lại cùng nhau kéo con cá lên rồi dùng cuốc to để đánh vảy. Sau đó mỗi người được tặng một chiếc vảy mang về làm quạt. Mổ bụng con cá ra có cả chồn, mổ bụng chồn có cả chim cuốc, mổ cuốc ra có hơn chén tép, đủ làm bảy món liên hoan cả làng thật là vui… Nghe xong ai cũng òa cười.

Làng Vĩnh Hoàng xưa nghèo khổ, phải vật lộn với thiên tai, giặc giã để mưu sinh. Trên cuộc hành trình gian khổ đó, người dân có một vũ khí rất lợi hại để tự động viên mình, đó là chuyện trạng. Và trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, người ta đã sinh ra cả ngàn chuyện trạng, thành kho tàng đặc sắc. Đây là kho chuyện cười trào tiếu dân gian, cũng giống như chuyện cười của các làng trạng Bắc Bộ hay chuyện kể bác Ba Phi ở Nam Bộ. Trong chuyến thăm làng trạng lần này, tôi đặc biệt ấn tượng với chuyện “Bắt nhầm cọp cày”, chuyện đã được vẽ thành tranh để bảo tồn. Nội dung như sau: “Đêm nớ, tui đi cày sớm, ra ngoài ràn (chuồng) bắt cặp bò đực cày đôi. Nhưng khi cài vào cày thấy con bò không chịu đi, tức quá tui lấy roi đập một cây vào lưng bò, con bò quay mặt dòm tui, thấy đực bò răng mà mặt mũi to đại chang, lạ quá. Tui tới sát coi cho kỹ. Té ra, đêm nớ cọp vô ràn bắt bò ăn thịt. Ăn xong, cọp chưa kịp ra khỏi ràn thì tui đã dậy đi cày quá sớm, bắt nhầm cọp cài vô cày mà không biết. Tức quá, tui mở dây cày ra, đập cho hắn một trận, hắn quá sợ, co bốn cẳng chạy vô rừng”.

Làng nói khoác Dương Sơn

Đất Kinh Bắc không phải chỉ có những làng nghề, làng Quan họ nổi tiếng, mà nó còn có những làng cười. Làng Quan họ chỉ tập trung ở một vài vùng nhất định, còn làng cười thì gần như huyện nào cũng có, ví như huyện Yên Phong có làng cười Đông Yên, huyện Tiên Sơn có làng cười Yên Tử, Hiên Ngang, huyện Yên Dũng có làng cười Đông Loan, Nội Hoàng, huyện Quế Võ có làng cười Đồng Sài, Trúc Ổ, huyện Tân Yên có làng cười Hòa Làng, Dương Sơn. Những ngày cuối năm, trong không khí chuẩn bị đón xuân, chúng tôi về làng Dương Sơn, một làng cười nổi tiếng, nơi đây con người mộc mạc, yêu đời và luôn biết làm cho cuộc sống của mình trở nên tươi đẹp.

Nói khoác, món ăn tinh thần của người Dương Sơn 

Người dân Dương Sơn nghĩ ra câu chuyện táo bạo, có thể làm sởn gai ốc của một số người nghe, đó là câu chuyện bắt hổ con: “Tôi đem hai con hổ con ra Hà Thành bán. Tiếng đồn đến tai ông Trưởng phường xiếc Tạ Duy Hiển, ông ta mời tôi vào nhà đãi làm thượng khách rồi đặt mua con hổ, tôi nhận tiền ra về. Tìm được hang hổ con mọn, tôi chui vào, rón rén bò qua đến chỗ hổ bố ngủ, tôi nhổ trụi râu nó, nó buồn quá lại càng ngủ say…Vượt qua hổ bố, tôi lần đến chỗ hổ con, bịt mũi đem ra, hổ bố vẫn gáy phe phe…”. Chuyện này người Hòa Làng không hề có. Hay như chuyện một người dân Dương Sơn gặp một người Hòa Làng, họ nói chuyện với nhau. Người Hòa Làng nói:

“-Da vợ mình thật trắng khủng trắng khiếp, trắng từ chân lên đến cổ. Cô ấy mà xắn quần lên thì thôi, ai muốn gọi là đùi cũng được, ai muốn gọi là khúc sắn bóc vỏ cũng được…

Người Dương Sơn bèn chen ngang:

-Thế đâu đã trắng bằng vợ tớ. Tớ nhớ, hồi máy bay Mỹ còn đánh phá khắp nơi, hôm ấy vợ mình đi ăn cưới, cô ấy diện chiếc áo pôpơlin Nhật trắng, mới nguyên. Đang đi giữa cánh đồng thì nghe tiếng máy bay, cô ta đang trên đường chạy tới bờ mương để nấp thì những người ở dưới mương đã kêu lên: “Cởi ngay cái áo ra, không máy bay nó trông thấy mất, cởi ngay ra, cởi ngay ra”. Nghe vậy cô ấy vừa chạy vừa cởi áo. Nhưng vừa cởi áo xong mọi người ẩn dưới lòng mương lại gào to hơn: “Mặc áo vào, mặc ngay áo vào, không nó bắn chết cả đám bây giờ!”. Cậu thấy không, da vợ tớ trắng đến thế kia mà!”.

Đúng là người Dương Sơn nói khoác gấp ba những làng nói khoác khác.

Ông Nguyễn Văn Thiết năm nay đã 80 tuổi, một người có nhiều năm nói khoác tâm sự: “Dòng họ chúng tôi, đến đời tôi là 7 đời nói khoác. Điều này không nhằm ý gì khác là sự vui vẻ, lạc quan với tính hai hước của người nông dân. Với lại, do cuộc sống kinh tế nghèo nàn, những câu chuyện nói khoác là để xua đi cái sự chật vật cố hữu, thể hiện cái khát vọng no đủ…”. Đến con cháu của ông Thiết, đi ra Hà Nội học cũng mang theo “cây nhà lá vườn”, khiến cả lớp họ được nhiều phen cười đến… vỡ bụng.

Về Dương Sơn, nếu đúng dịp đầu xuân tổ chức thi nói khoác thì thật vui. Các cụ bảo cuộc thi vui vẻ đó đôi khi diễn ra từ sáng đến tối. Ngày xưa những bậc lão thành của làng, với vốn kinh nghiệm dân gian, chuyện khoác “đầy mình” nên không thanh niên nam nữ nào thắng được. Giờ các cụ chủ yếu truyền đạt kinh nghiệm cho con cháu, còn phần thi giành nhiều cho bậc trung niên và thanh niên. Các cụ các ông là những “cây” nói khoác phải kể đến các cụ Nguyến Chí Bao, Trần Mãi, các ông Nguyễn Đình Đại, Nguyễn Đình Vinh… Cuối ngày, chúng tôi về nhà ông Nguyễn Đình Vinh, xin ông vài chuyện nữa để mang về quê… ăn Tết. Nào ngờ khi nghe ông nói, mải nghe, mải nghĩ quên mất cả ghi, may mà còn cái máy ghi âm. Ông Vinh khoe: “Năm ngoái tôi bắt được một con ếch, ăn thịt hai năm mới hết”. Tôi không tài nào đoán được chuyện có ý nghĩa gì, giải thích ra sao thì ông Vinh tiếp: “Đêm 30 cầm đèn qua bờ ao, bắt được một con ếch to về làm thịt, bắc mâm ra còn là năm cũ, ăn qua giao thừa sang năm mới mới hết. Thế chẳng là con ếch ăn hai năm mới hết là gì?”

Chuyện cười là kho tàng của những người nông dân còn lam lũ, vất vả nhưng vẫn lạc quan, sống bằng tiếng cười. Đó là cái hồn quê, mộc mạc của người dân Việt Nam ta.

Theo Nguyễn Văn Học (Vietimes)

Tháng Hai 17, 2009 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Pháo hoa chào đón năm mới 2009 trên khắp thế giới

Các thành phố trên khắp thế giới chào đón năm mới 2009 bằng màn pháo hoa tuyệt đẹp, hy vọng một năm tốt đẹp cho mọi người trên trái đất này

Cầu cảng Sydney và nhà hát opera Sydney tại Australia

Cầu cảng Sydney và nhà hát opera Sydney tại Australia

Cầu cảng Sydney và nhà hát opera Sydney tại Australia

Cầu cảng Sydney và nhà hát opera Sydney tại Australia

New Zealand

New Zealand

Vịnh Manila Philippines

Vịnh Manila Philippines

Hongkong Trung Quốc

Cảng Victoria Hongkong Trung Quốc

Đài Bắc Đài Loan

Đài Bắc Đài Loan

Seoul Hàn Quốc

Seoul Hàn Quốc

Vịnh Marina và nhà hát Esplanade, Singapore

Vịnh Marina và nhà hát Esplanade, Singapore

Jakarta Indonesia

Jakarta Indonesia

Thủ đô Moscou Liên bang Nga

Thủ đô Moscou Liên bang Nga

Luthuania

Luthuania

Minsk, Belarus

Minsk, Belarus

Tháp St. Vitus Cathedral ở Prague Castle, Cộng Hoà Czech

Tháp St. Vitus Cathedral ở Prague Castle, Cộng Hoà Czech

Đền thờ Parthenon ở thủ đô Athens của Hy Lạp

Đền thờ Parthenon ở thủ đô Athens của Hy Lạp

Budapest, Hungary

Budapest, Hungary

London Anh Quốc

London Anh Quốc

London Anh Quốc

London Anh Quốc

Paris Pháp

Paris Pháp

Scotland

Scotland

Newyork Mỹ

Newyork Mỹ

Brasil

Brasil

Tháng Một 2, 2009 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà Nguyễn – lịch sử thăng trầm của một dòng họ (Kỳ cuối): – Khơi dòng lịch sử

TT – Như bao triều đại phong kiến khác tại VN trước đây, vương triều Nguyễn cũng đã được thành lập, phát triển và lụi tàn theo nhịp phế hưng của dòng chảy lịch sử dân tộc và theo đà trôi xuôi của thời gian.

Tuy nhiên, sự đánh giá đối với vương triều Nguyễn có vẻ đặc biệt hơn so với các triều đại khác trong lịch sử nước ta. Đặc biệt ở chỗ nhiều người chưa có được sự nhất trí trong nhận thức và sự giống nhau trong quan điểm. Chẳng hạn có người cho rằng nhờ có nhà Nguyễn nên nước ta mới có được một đất nước rộng lớn và hoàn chỉnh như ngày nay, cũng có người lên án nhà Nguyễn là một triều đại “bán nước”.

Đà Nẵng lấy tên chúa Nguyễn Hoàng đặt cho một con đường ở quận Hải Châu trung tâm thành phố -Ảnh: Đoàn Cường

Thịnh rồi suy

Vương triều Nguyễn chỉ mới được thành lập một cách chính thức vào đầu thế kỷ 19, nhưng sự chuẩn bị để đi đến kết quả đó đã bắt đầu từ rất lâu, muộn lắm là cũng vào thế kỷ 17. Theo bước thăng trầm của lịch sử mọi triều đại phong kiến, ngai vàng của các chúa Nguyễn Đàng Trong đã bị lung lay ngay sau cái chết của chúa Nguyễn Phúc Khoát vào năm 1765. Từ đó, Quốc phó Trương Phúc Loan, một con người vừa tham quyền vừa tham tiền, đã khuấy động cả triều đình Phú Xuân.

Bằng mọi thủ đoạn gian ác, ông đã đưa hoàng tử thứ 16 của vị chúa thứ 8 Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Thuần mới 11 tuổi lên nối ngôi để lợi dụng. Sự lộng quyền của Trương Phúc Loan đã làm bộ máy cai trị của nhà chúa yếu kém dần và lâm vào tình trạng “dột từ nóc dột xuống”.

Đó chính là lý do khiến ba anh em nhà Tây Sơn nổi dậy ở Quy Nhơn vào năm 1771. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân từ Quy Nhơn vào đánh Gia Định, chúa tôi nhà Nguyễn phải chạy xuống Định Tường, Cần Thơ rồi Long Xuyên. Quân Tây Sơn đuổi theo, bắt được chúa và đoàn tùy tùng, họ đều bị giết, chỉ trừ Nguyễn Phúc Ánh kịp thời rời đất liền ra trốn tránh ở đảo Thổ Châu.

Sau đó, ông trở về Long Xuyên tụ tập được một số người thân tín và tái khởi binh đánh chiếm lại Sài Gòn. “Rồi từ đó, suốt 24 năm trời, từ năm 1778 – 1802, Nguyễn (Phúc) Ánh liên tiếp chống lại kẻ thù họ Nguyễn. Cuối cùng ông gây dựng được cơ đồ cũ, lên ngôi với đế hiệu Gia Long, cai trị trên một lĩnh thổ to rộng hơn bao giờ hết về trước, và lĩnh thổ này chính ông đã đặt cho tên Việt Nam” (Nguyễn Phương, 82 năm Việt sử, 1802-1884, Đại học Sư phạm Huế xuất bản, 1963).

Nếu nói công bằng thì sự thống nhất quốc gia vào đầu thế kỷ 19 không phải là công riêng của ông vua đầu triều Nguyễn là Gia Long, mà nó đã được đặt sẵn nền tảng trước đó trên dưới hai thập niên với việc xóa bỏ ranh giới sông Gianh khi quân Trịnh mở cuộc Nam chinh vào đầu năm 1775, và nhất là lúc hoàng đế Quang Trung mở cuộc Bắc phạt vào năm 1788. Việc thiết lập vương triều Nguyễn cũng dựa trên nền tảng của một số triều đại tiền nhiệm trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, mà căn cơ và quan trọng nhất của vương triều này vẫn là thời của các chúa Nguyễn.

“Thà làm dân một nước độc lập”

Gia Long là vị vua khai sáng vương triều Nguyễn, kéo dài 143 năm (1802-1945) qua 13 đời vua. Nay nhìn lại lịch sử 143 năm trải qua 13 đời vua ấy, các nhà sử học dễ nhất trí với nhau rằng có thể chia đại khái ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn độc lập tự chủ tồn tại dưới đời các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và một phần đời vua Tự Đức. Nhưng sau cái chết của vị vua thứ tư này thì thực dân Pháp đã có thể gây áp lực trực tiếp lên chính triều đình Huế, buộc Nam triều phải ký hiệp ước Patenôtre (6-6-1884) và tước đoạt nền độc lập của Việt Nam.

Mặc dù ngay sau đó, ngọn lửa giành lại chủ quyền có lóe lên vào năm 1885 dưới thời Hàm Nghi, rồi Thành Thái và Duy Tân, nhưng lực bất tòng tâm, kinh đô thất thủ, Việt Nam hoàn toàn bị đặt dưới quyền cai trị của người Pháp. Vương triều Nguyễn đã để mất nước (cho đến năm 1945), như chính Bảo Đại đã tuyên bố khi thoái vị: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

Khi đang viết bài này, tôi đọc được một cuộc phỏng vấn ngắn với nhà thơ Nguyễn Duy trên báo Lao Động ra ngày 16-7-2008, với nhan đề “Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”. Đây là câu thơ mà Nguyễn Duy dùng để mở đầu kịch bản phim Đi tìm dấu tích ba vua do Đài truyền hình TP.HCM thực hiện. Khi trả lời câu hỏi tại sao lại phải “khơi dòng lịch sử bị nghẽn” vào thời điểm này, nhà thơ Nguyễn Duy thổ lộ: “Cho đến bây giờ nhiều người biết rằng nhà Nguyễn có công lớn đối với nước nhà, nhưng không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa”.

Nhìn chung, vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, kể cả “tấm huy chương” mà một số sử gia, trong đó có các nhà bỉnh bút ở Quốc Sử Quán, Nội các và Hàn Lâm viện triều Nguyễn đã gắn cho vua Gia Long nói riêng và vương triều Nguyễn nói chung. Nhưng vì chính vua Gia Long là người muốn giành lại vương quyền cho dòng họ mình để thành lập triều Nguyễn với bất cứ giá nào, kể cả việc cầu viện ngoại bang, cho nên con cháu ông sau đó đã phải trả một cái giá rất đắt khi quân đội thực dân Pháp đến xâm lược nước ta.

Trong bài “Vài suy nghĩ về vị thế xứ Huế và vị thế lịch sử của nó” đăng trên tạp chí Sông Hương tháng 5-6 năm 1987, giáo sư Trần Quốc Vượng đã đưa ra một nhận định đầy công tâm và chính xác về nhà Nguyễn: “Có thời Nguyễn, chúng ta mới có được một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Và trong ngót hai thập niên qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học và nhiều công trình nghiên cứu đã dần dần đem lại một cái nhìn rộng mở hơn chứ không còn gay gắt như trước đối với vương triều Nguyễn.

13 đời vua triều Nguyễn

STT

HÚY DANH

NIÊN HIỆU

THỜI GIAN TRỊ VÌ

1

Nguyễn Phúc Ánh

Gia Long

1802-1819

2

Nguyễn Phúc Ðảm

Minh Mạng

1820-1840

3

Nguyễn Phúc Miên Tông

Thiệu Trị

1841-1847

4

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm

Tự Ðức

1848-1883

5

Nguyễn Phúc Ưng Chân

Dục Ðức

1883 (3 ngày)

6

Nguyễn Phúc Hồng Dật

Hiệp Hòa

1883 (4 tháng)

7

Nguyễn Phúc Ưng Ðăng

Kiến Phúc

1884

8

Nguyễn Phúc Ưng Lịch

Hàm Nghi

1885

9

Nguyễn Phúc Ưng Ðường

Ðồng Khánh

1886-1888

10

Nguyễn Phúc Bửu Lân

Thành Thái

1889-1907

11

Nguyễn Phúc Vĩnh San

Duy Tân

1907-1916

12

Nguyễn Phúc Bửu Ðảo

Khải Ðịnh

1916-1925

13

Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy

Bảo Ðại

1926-1945

PHAN THUẬN AN (Theo Báo Tuổi Trẻ)

___________________________

Các tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: Hùng cứ một phương
>> Kỳ 2: Chuyện về một công nữ họ Nguyễn
>> Kỳ 3: Trung tâm giao thương
>> Kỳ 4: Trên miền đất dựng nghiệp
>> Kỳ 5: Dinh xưa, cảng cũ bây giờ
>> Kỳ 6: “Kinh đô kháng chiến”
>> Kỳ 7: Sự tưởng niệm lặng lẽ

Tháng Mười Hai 16, 2008 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà Nguyễn – lịch sử thăng trầm của một dòng họ – Kỳ 7: Sự tưởng niệm lặng lẽ


Trường trung học Nguyễn Hoàng xưa -Ảnh tư liệu chụp năm 1958
Trường trung học Nguyễn Hoàng xưa -Ảnh tư liệu chụp năm 1958

 

TT – Cho dẫu dấu tích của buổi đầu chúa Nguyễn Hoàng mở cõi hay về sau, khi những vị vua yêu nước tiếp tục chọn Quảng Trị lập căn cứ kháng chiến, đã bị nhạt nhòa thì tâm khảm con dân miền đất này vẫn ghi lòng tạc dạ niềm tri ân với tiền nhân. Một trong những niềm tưởng niệm ấy là ngôi trường trung học đầu tiên của tỉnh Quảng Trị được mang tên chúa: Trường trung học Nguyễn Hoàng.

Danh thơm của người mở cõi dành cho ngôi trường được vinh dự mang tên, tên trường nay cũng không còn.

 

Trường Nguyễn Hoàng

 

Hiếm có ngôi trường nào đặc biệt như Trường Nguyễn Hoàng. Được một nhóm thân hào, nhân sĩ ở thị xã Quảng Trị lập ra vào năm 1951 là trường trung học tư thục, năm học tiếp theo được công nhận là trường công lập và đến niên khóa 1953-1954 mang tên Trường trung học Nguyễn Hoàng. Quảng Trị vốn là đất địa đầu giới tuyến, sau những tao loạn thời cuộc Trường Nguyễn Hoàng đã có lúc dời vào tận Hòa Khánh (Đà Nẵng) nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi.

 

Sau 24 năm tồn tại, sau ngày giải phóng (1975) ngôi trường trung học đầu tiên của tỉnh Quảng Trị không còn mang tên Nguyễn Hoàng. Trên vị trí trường xưa mọc lên một ngôi trường trung học mới mang tên Trường cấp III Triệu Hải, và sau những lần tách nhập địa giới hành chính, bây giờ ngôi trường ấy mang tên Trường THPT thị xã Quảng Trị.

 

Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Năm 1622, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã cho lập dinh trấn tại nơi này để giữ yên biên thùy phía tây – Ảnh: L.Đ.Dục

Trường Nguyễn Hoàng không còn mang tên xưa nhưng những thế hệ cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã mang theo hình ảnh ngôi trường cùng tên vị chúa mở cõi đi khắp năm châu bốn bể. Hiếm có ngôi trường nào với nhiều thế hệ trò giỏi như Trường Nguyễn Hoàng, không chỉ trước 1975 mà hơn 30 năm nay vẫn gìn giữ và phát huy truyền thống đất học.

 

Đi đến đâu, những cựu học sinh miền đất này vẫn mang niềm tự hào “học trò Nguyễn Hoàng”, dù họ đang là anh nông dân hay chữ lam lũ ruộng vườn hoặc những nhà khoa học, doanh nhân đang sống ở chân trời góc biển. Đó cũng là sự tưởng niệm lặng lẽ rằng cho dẫu thế nào thì không ai, không điều gì bị lãng quên, như sau này nhà thơ Nguyễn Duy cảm khái về lễ cải táng vua Duy Tân: “Bao triều vua phế đi rồi/Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”.

 

Năm 2006, những cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã góp tay để cho ra đời tập sách Chân dung và kỷ niệm. Chỉ chưa đầy hai năm, tiếng gọi của những cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã nối vòng tay lan xa khắp các châu lục, đã có bốn tập sách, mỗi tập dày ngót ngàn trang in những hồi ức, kỷ niệm về ngôi trường. Tâm nguyện của những học trò ra đi từ mái trường này vẫn là không làm điều gì thẹn với uy danh tiền nhân mà ngôi trường được mang tên.

 

Mơ một nơi lưu bóng tiền nhân?

 

Dấu ấn của các chúa Nguyễn trên đất Quảng Trị không chỉ ở Ái Tử, Trà Bát, Cửa Việt… Bây giờ đi ngược lên miền tây huyện Gio Linh, nơi những rừng cao su xanh tốt bạt ngàn, đặc biệt với hệ thống giếng cổ độc đáo được xếp hạng di tích quốc gia, ít ai biết miền đất ấy đã được Nguyễn Hoàng mở mang bằng việc đưa các tù binh nhà Mạc lên đấy khai khẩn, lập nên làng xóm (sau này cũng với chính sách ấy ông đã đưa tù binh nhà Trịnh vào khai phá các vùng đất mới từ Quảng Ngãi vào đến Phú Yên ngày nay).

 

Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất tháng 6-1613. Ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi. Mộ ông lúc đầu táng ở Thạch Hãn, sau này cải táng đưa vào La Khê, huyện Hương Trà, gọi là lăng Trường Cơ.Trường trung học đầu tiên ở Quảng Trị có quyết định mang tên Nguyễn Hoàng cùng lúc với các trường trung học Đào Duy Từ ở Đồng Hới, Phan Chu Trinh ở Đà Nẵng, Trần Quý Cáp ở Hội An, Võ Tánh ở Nha Trang, Duy Tân ở Phan Rang và Phan Bội Châu ở Phan Thiết… theo quyết định ngày 6-5-1954 của Bộ Giáo dục thời đó.

Hay giờ đây cái tên Lao Bảo trở nên nổi tiếng là đầu cầu của hành lang kinh tế Đông – Tây nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là cửa ngõ đường xuyên Á, một khu kinh tế đặc biệt trên biên giới Việt – Lào. Tuy nhiên ít ai biết vào năm Nhâm Tuất (1622), chính Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là người đã lập nên dinh trấn Ai Lao này để canh phòng nạn cướp bóc nơi biên thùy, tạo sự thông thương buôn bán với các bộ lạc Lạc Hoàn, Vạn Tượng (Lào), khi ấy thủ phủ vẫn ở làng Trà Bát.

 

Nhiều nhà nghiên cứu đã nói rằng tìm hiểu về triều Nguyễn mà thiếu chặng đường khởi nghiệp ở Quảng Trị là một thiếu hụt đáng tiếc. Nhưng Quảng Trị, trải qua mấy chục năm binh lửa đạn bom, dấu vết di tích đã không còn được bao nhiêu. Bom đạn phá một phần, những nhìn nhận thiếu khách quan về nhà Nguyễn suốt mấy chục năm qua, sự vô tâm của con người cũng góp phần xóa đi phần ít ỏi dấu tích còn lại.

 

Trong một lần làm việc với lãnh đạo huyện Triệu Phong (với huyện lỵ đang đóng tại vùng đất Ái Tử), chúng tôi được biết huyện Triệu Phong cũng mong muốn tôn tạo, trưng bày những dấu vết của thủ phủ Ái Tử, dinh trấn Trà Bát. Nhưng cũng chỉ là ước mong vậy thôi, chưa có gì khởi động. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân gợi ý khó có thể phục dựng tất cả, bởi đó là công việc đòi hỏi nhiều kinh phí và tốn kém, nhưng có một cách làm khác là thu nhỏ những di tích ấy bằng những mô hình với tỉ lệ nhỏ hơn, và tập trung tất cả mô hình ấy vào một khu vực.

 

Ở Ái Tử có một khu đất rộng chạy sát sông Thạch Hãn lâu nay vẫn được giữ để làm sân bay trong tương lai (thời chiến tranh là sân bay quân sự của Mỹ). Tuy nhiên, mới đây quy hoạch sân bay cho Quảng Trị đã được dời ra vùng Quán Ngang, huyện Gio Linh. Nhiều người mơ ước trên  khu đất định làm sân bay ấy, những dấu tích buổi đầu mở cõi của chúa Nguyễn Hoàng được phục dựng, mô hình thành Tân Sở được tái hiện trở thành một bảo tàng thu nhỏ nhưng sinh động, để rồi khi đến đó người ta hình dung được lịch sử khai mở Đàng Trong đã bắt đầu từ miền đất Ái Tử như thế nào, công cuộc kháng chiến của vua Hàm Nghi và thành Tân Sở đã diễn ra ra sao… Âu cũng là hậu thế tri ân tiền nhân vậy!

 

Nhưng ước mơ chuyện ngôi trường xưa được mang lại tên Nguyễn Hoàng, một con phố trung tâm nơi đô thị cửa ngõ Lao Bảo mang tên Chúa Sãi… có là điều quá khó khăn khi lịch sử trước hết là sự công tâm và quá khứ lịch sử cũng cần sòng phẳng?

 

LÊ ĐỨC DỤC (Theo Báo Tuổi Trẻ)

 

___________________________

 

Năm 1987, giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Có thời Nguyễn, chúng ta mới có được một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Hai thập niên qua, dần dần đã có một cái nhìn rộng mở hơn đối với vương triều Nguyễn.

 

Kỳ cuối: Khơi dòng lịch sử

 

___________________________

 

Các tin bài liên quan:

 

>> Kỳ 1: Hùng cứ một phương
>> Kỳ 2: Chuyện về một công nữ họ Nguyễn
>> Kỳ 3: Trung tâm giao thương
>> Kỳ 4: Trên miền đất dựng nghiệp
>> Kỳ 5: Dinh xưa, cảng cũ bây giờ
>> Kỳ 6: “Kinh đô kháng chiến”

Tháng Mười Hai 16, 2008 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà Nguyễn – lịch sử thăng trầm của một dòng họ (Kỳ 6): “Kinh đô kháng chiến”

TT – Hơn 300 năm sau, khi Ái Tử hay Trà Bát không còn là thủ phủ như buổi đầu khởi nghiệp, nhưng hậu duệ của Nguyễn Hoàng – vua Hàm Nghi, một vị vua yêu nước của vương triều Nguyễn, đã về Quảng Trị lập “kinh đô kháng chiến” chống Pháp. Đó chính là thành Tân Sở ở Cam Lộ.

 

Dấu tích thành lũy của “kinh đô kháng chiến” nay chỉ còn mấy khóm tre gai – Ảnh: L.Đ.Dục

Dài theo đường thiên di của lịch sử, của dân tộc, nhiều chứng tích đã bị phôi pha, quên lãng rồi tan vào cát bụi. Và Tân Sở cũng không ngoài số phận đó.

“Kinh thành dự bị, kinh đô kháng chiến”

Từ huyện lỵ Cam Lộ nằm ở km 12 trên quốc lộ 9 từ Đông Hà đi Lao Bảo, rẽ về phía hướng nam theo đường vào Cùa chừng 7km sẽ gặp một bình nguyên đất badan màu mỡ được vây bọc những đồi núi bát úp khá kín đáo và hiểm yếu. Đó là thành Tân Sở.

Sau khi Pháp nổ súng tấn công xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ chủ hòa, tuy nhiên trong triều đình vẫn nổi lên phái chủ chiến do thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết và phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường đứng đầu. Kinh thành ngày càng bị uy hiếp, từ năm 1883 Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã chủ trương xây dựng một “kinh đô dự phòng” để di đô khi Huế lâm nguy. Và vùng Cùa với Tân Sở là trung tâm được chọn.

Khi người Pháp đánh chiếm cửa Thuận An (tháng 8-1883) thì Tân Sở được đẩy nhanh tốc độ xây dựng. Một “kinh đô kháng chiến” được xây bằng tre, gạch, gỗ, đá… của nhân dân Quảng Trị đóng góp. Đến đầu năm 1885 thì Tân Sở hoàn thành. Một trong những tư liệu đầu tiên tìm hiểu về căn cứ Tân Sở này là của giáo sĩ A.Delvaux, từng đến truyền giáo ở xứ đạo Phước Tuyền (Cam Lộ), đăng trên tập san Đô Thành Hiếu Cổ (B.A.V.H – “Le camp de Tan So”) với những miêu tả chi tiết kèm theo bản đồ thành Tân Sở.

Tân Sở được xây với mục đích làm căn cứ kháng chiến nên thành có diện tích rộng gần bằng kinh thành Huế. Với chiều dài 548m, rộng 418m, ngoài thành có hàng rào cọc nhọn và hào sâu bao bọc, tiếp là thành đắp bằng đất nện, mở bốn cửa tiền – hậu – tả – hữu theo hướng tương ứng nam – bắc – đông – tây, tiếp theo là tre gai được trồng thành bốn lớp lũy dày, giữa các lũy tre là thành đất, tiếp giáp với thành nội là trại lính, kho hậu cần, bãi tập voi, ngựa. Chính giữa trung tâm là khu vực thành nội được xây bằng gạch vồ với chiều dài 165m, rộng 100m, ngoài bốn cửa tiền – hậu – tả – hữu còn có thêm Ngọ Môn. Bên trong thành nội là hành cung với các ngôi nhà kiên cố được tháo dỡ từ Huế rồi mang ra dựng lại để vua và các quan làm việc như dinh lãnh binh, chánh sứ, phó sứ, bang tá…

Lần giở những trang tài liệu cũ về căn cứ Tân Sở lúc bấy giờ có thể hình dung cả một “công trường kháng chiến” khi hàng vạn dân đinh trong vùng tụ hội về đây xây dựng thành lũy, binh lính tập trung luyện tập. Lương thực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến được vận chuyển từ đồng bằng sông Hồng vào đây qua cảng Cửa Việt. Súng thần công, đạn dược được chuyển từ kinh thành Huế ra, lò rèn nổi lửa đúc súng ống. Tiền bạc ngân lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến cũng được Tôn Thất Thuyết cho chuyển ra đây với ba trăm ngàn lượng, bằng một phần ba kho nội phủ.

Những trù liệu của triều đình khi xây dựng căn cứ Tân Sở đã thành sự thật khi sự biến đêm 23-5 năm Ất Dậu (1885) xảy ra. Cuộc tập kích đồn Mang Cá và Tòa khâm sứ Pháp không thành, kinh đô chìm ngập trong biển máu. Tôn Thất Thuyết và triều thần phò giá vua Hàm Nghi ra Tân Sở để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến đánh Pháp. Tại đây vua Hàm Nghi đã xuống chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân cả nước phò vua đánh giặc.

Cuộc kháng chiến của phong trào Cần Vương với sự tham gia của nhân dân và nhiều sĩ phu yêu nước kéo dài đến những năm đầu thế kỷ 20. Tân Sở thành xưa sau này bị quân Pháp đốt phá, nhưng theo A.Delvaux, khi ông lên đây lần đầu vào năm 1906 cho biết những thành lũy trong và ngoài Tân Sở vẫn còn khá nguyên vẹn.

Hoang tàn dấu tích

Những viên gạch vồ được dân nhặt về lát sân – Ảnh: L.Đ.Dục

Hơn 120 năm đã qua khi chúng tôi về lại thành xưa Tân Sở chỉ thấy một bình nguyên mênh mông phủ kín bạt ngàn cao su. Những lũy tre ken dày mấy lớp xưa kia nay chỉ còn vài khóm lưa thưa nhưng vẫn mọc thẳng hàng, đủ cho chúng tôi nhận ra dấu vết của vòng thành ngoại. Trên lô cao su chưa khép tán, mấy người dân vùng Cùa tranh thủ gặt lúa. Chị Trần Thị Cúc ở thôn Mai Lộc 2, xã Cam Chính kể hồi xưa chị còn nhỏ lên đây vẫn thấy bờ tre ken dày. Hồi những năm 1970-1980, người ta mưu sinh bằng việc tìm phế liệu, trong khu vực thành Tân Sở xưa này đã tìm thấy khá nhiều đạn của súng thần công, những viên đạn hình cầu đúc bằng gang hay sắt, đồng, kích cỡ đường kính lớn nhỏ khác nhau.

Còn theo A.Delvaux, sau khi Tân Sở bị Pháp chiếm và đốt phá, công sứ Quảng Trị là Hamelin đã sai chuyển bốn khẩu thần công có khắc chữ Hán từ Tân Sở về đặt trước hành cung ở thành cổ Quảng Trị, trong đó hai cỗ súng dài đến 2,57m. Hỏi thăm những người dân quanh vùng để tìm đến chủ một vựa thu mua phế liệu thời đó, chúng tôi gặp anh Trần Xuân Hòa, năm nay 54 tuổi, người thôn Đốc Kỉnh, Cam Chính. Theo anh Hòa, số đạn thần công hồi đó anh mua nhiều vô kể nhưng đều cân sắt phế liệu, anh có giữ lại một vài viên bằng đồng nhưng rồi thất lạc mất.

Lũy tre không còn, những chứng tích súng đạn của kinh thành kháng chiến cũng không. May sao trong vườn nhà anh Hòa vẫn còn một số viên gạch vồ, vốn xưa kia là gạch xây thành nội Tân Sở. Hồi đó, dân trong vùng vào Tân Sở kiếm hết phế liệu thì nhặt những viên gạch còn lành lặn về lát sân, lát nền giếng. Những viên gạch vồ với kích thước không lẫn vào đâu được, đã xanh sắc rêu im lặng trong góc vườn nhà anh Hòa.

Một “kinh đô kháng chiến” được nhắc nhiều trong sử sách mà nay chỉ còn lại vài viên gạch lẻ loi như thế này thôi ư? Một chương bi tráng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc lẽ nào không còn ai biết? Nhìn ra mênh mông bình nguyên, chập chùng đồi núi vây bọc bốn bề, chốn hiểm địa chở che cho Tổ quốc buổi sơn hà nguy biến nay không một tấm bia biển để nhắc nhở hậu thế.

Quảng Trị ba lần làm kinh đô và thủ phủ

Lần thứ nhất: Khi chọn đất đứng chân cho hành trình mở cõi, từ năm 1558 Nguyễn Hoàng đã chọn Ái Tử của Quảng Trị.

Lần thứ hai: Khi Pháp nổ súng xâm lược (1858), lo ngại trước thế quân Pháp, năm 1883 để phòng khi Huế thất thủ, nhà Nguyễn chọn Quảng Trị để lập “kinh đô kháng chiến”, xây dựng căn cứ Tân Sở (nay thuộc vùng Cùa, huyện Cam Lộ, Quảng Trị).

Lần thứ ba: Năm 1973, khi đặt “thủ đô” cho Cộng hòa miền Nam Việt Nam giữa lúc cuộc đấu tranh đòi thống nhất đất nước diễn ra ác liệt nhất, Cam Lộ được chọn đặt trụ sở của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nơi đây đã diễn ra những lễ trình quốc thư, tiếp kiến ngoại giao với sự có mặt của các chính khách trong chính phủ kháng chiến Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình…

LÊ ĐỨC DỤC (Theo Bảo Tuổi Trẻ)

___________________

Trên đất Quảng Trị từng có một sự tưởng niệm sâu sắc với người mở cõi bắt đầu với một ngôi trường mang tên Nguyễn Hoàng.

Kỳ tới: Sự tưởng niệm lặng lẽ

Các tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: Hùng cứ một phương
>> Kỳ 2: Chuyện về một công nữ họ Nguyễn
>> Kỳ 3: Trung tâm giao thương
>> Kỳ 4: Trên miền đất dựng nghiệp
>> Kỳ 5: Dinh xưa, cảng cũ bây giờ

Tháng Mười Hai 15, 2008 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà Nguyễn – lịch sử thăng trầm của một dòng họ – Kỳ 5: Dinh xưa, cảng cũ bây giờ

Tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ đang lưu giữ tại làng Trà Liên -Ảnh: L.Đ.Dục

TT – Dấu tích của những vị chúa Nguyễn buổi đầu mở cõi nay còn ở Trà Bát (nay là làng Trà Liên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, Quảng Trị). Cho dẫu còn ít ỏi và phần nào hoang phế thì ngần ấy dấu tích vẫn đủ sức thức gợi cả một trời quá khứ.

>> Kỳ 1: Hùng cứ một phương
>> Kỳ 2: Chuyện về một công nữ họ Nguyễn
>> Kỳ 3: Trung tâm giao thương
>> Kỳ 4: Trên miền đất dựng nghiệp

Từ Ái Tử, nơi Nguyễn Hoàng dựng dinh trấn đầu tiên về Trà Liên chỉ cách chừng 3km về phía đông bắc. Trong những năm chiến tranh, người Mỹ xây dựng Ái Tử thành một căn cứ quân sự lớn nên vết tích dinh trấn đầu tiên của chúa Nguyễn hầu như bị cày xới để xây dựng đồn bót, kho đạn, sân bay… nay không còn lưu dấu gì. Riêng dinh Trà Bát có phần may mắn hơn.

“Bảo vật quốc gia”

Chúng tôi về gặp ông Bùi Thịnh, trưởng ban điều hành làng văn hóa Trà Liên, với hi vọng được ông dẫn lối đi tìm những dấu tích. Trước khi rẽ xe vào trụ sở Hợp tác xã Trà Liên, chúng tôi ngỡ ngàng khi thấy pho tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ được thờ trong cái am nhỏ vừa đơn sơ vừa chắc chắn. Pho tượng đồng này có một số phận nổi chìm kỳ lạ và giờ đây được xem là “bảo vật quốc gia” tại Quảng Trị.

Vùng Trà Bát bây giờ thật quạnh hiu-Ảnh: L.Đ.Dục

Thái phó Nguyễn Ư Dĩ – tước Uy Quốc công, là cậu ruột của Nguyễn Hoàng, người đã nuôi dạy Nguyễn Hoàng từ khi mới 2 tuổi lúc Nguyễn Kim (thân phụ Nguyễn Hoàng) lánh nạn sang Lào. Chăm lo cho người cháu, thấy Nguyễn Hoàng “tướng mạo khôi ngô, vai lân lưng hổ, mắt phượng trán rồng, thông minh tài trí, kẻ thức giả đều biết đấy là bậc phi thường” nên Nguyễn Ư Dĩ đã đem việc kiến công lập nghiệp khuyến khích cháu. Chính Nguyễn Ư Dĩ là người đã thay mặt Nguyễn Hoàng đi lĩnh ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi sau đó theo phò tá Nguyễn Hoàng trong buổi đầu đến Ái Tử.

Ngôi chùa thờ Nguyễn Ư Dĩ có tên là Liễu Ba (hay còn gọi là Liễu Bông – Miếu Bông). Hiếm có một công thần nào lại được dân cúng giỗ quanh năm như thái phó Nguyễn Ư Dĩ. Ông Bùi Thịnh cho biết phong tục dân làng mỗi năm đều giỗ quan thái phó vào các ngày rằm tháng hai, tháng sáu, tháng tám và ngày tết. Pho tượng Nguyễn Ư Dĩ được đúc bằng đồng vào khoảng thế kỷ 17, được đặt tại chùa. Năm 1972 chiến tranh bom đạn ác liệt nhưng pho tượng vẫn nguyên vẹn. Ngày hòa bình trên nền chùa cũ, dân làng dựng lại một nếp chùa đơn sơ để đặt tượng thờ.

Tuy nhiên năm 1989 kẻ gian đã đánh cắp pho tượng đồng quý giá này.

Theo lời một bô lão trong làng, khi pho tượng bị mất cả làng đã đổ ra tìm kiếm. Do tượng quá nặng, kẻ cắp đã mang pho tượng xuống vùi trên bãi cát ven sông Thạch Hãn gần làng. Khi cả làng dùng thuốn sắt đi dò dọc triền sông thì phát hiện tượng đang còn bị chôn vùi dưới cát. Dân đã không để tượng ở chùa Liễu Bông cũ mà mang về cạnh đình làng, rồi xây một cái am nhỏ nhưng kiên cố có bọc bêtông cốt thép để bảo vệ tượng.

Trà Bát chính là nơi Nguyễn Hoàng trút hơi thở cuối cùng vào năm 1613. Trước lúc lâm chung, cũng tại Trà Bát, ông đã triệu người con trai thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên đang làm trấn thủ Quảng Nam về cầm tay dặn dò: “Đất Thuận – Quảng phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang (sông Gianh) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân, núi Thạch Bi vững bền, núi sinh vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của kẻ anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh thì chống chỏi với họ Trịnh đủ xây dựng sự nghiệp muôn đời, nếu thế lực không địch được thì cố giữ đất đai để đợi thời cơ chứ đừng bỏ hỏng lời dạy của ta”. Vâng mệnh cha, từ dinh Trà Bát này Nguyễn Phúc Nguyên đã nối ngôi chúa chăm lo việc phòng thủ, sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài mến phục gọi ông là Chúa Sãi hay Sãi Vương.

Mãi đến năm 1626 Nguyễn Phúc Nguyên mới dời dinh trấn từ Trà Bát vào Phước Yên – Quảng Điền, nay thuộc Thừa Thiên – Huế.

Chúng tôi ra chùa Liễu Bông, ngôi chùa được dựng nên thờ phụng các công thần theo phò tá Nguyễn Hoàng buổi đầu dựng nghiệp đã mất dấu. Trên nền chùa xưa một dòng họ khác trong làng đã xây một khu lăng mộ nguy nga đồ sộ trên chính nền chùa cũ. Đau xót hơn khi chúng tôi tìm thấy quanh khu lăng mộ những phiến đá ôm lót chân cột chùa để nằm lăn lóc dãi dầu mưa nắng. Những phiến đá chứng nhân của hơn bốn thế kỷ còn bị đối xử như vậy, thảo nào bao nhiêu dấu tích buổi tiền nhân khởi nghiệp cũng dần biến mất.

Thương cảng một thời

Không xa nền cũ ngôi chùa Liễu Bông là khu vực được xem là các vòng thành của dinh Trà Bát xưa. Một gò đất cao ráo, còn vương lại những phiến đá sa thạch to rộng và vô số gạch vụn đỏ au lẫn trên nền đất cũ. Từ vị trí các vòng thành dấu tích của dinh Trà Bát, chỉ đi thêm một quãng không xa là ra đến Bến Gành. Sông Thạch Hãn chảy về quãng này chợt uốn một vòng cung rộng mênh mông. Anh Phan Văn Khuynh, trưởng ban văn hóa xã hội của xã Triệu Giang, đưa chúng tôi ra bờ sông.

Hơn bốn thế kỷ sông không biết có đổi dòng đổi bến, nhưng bên triền đất lở ven sông chúng tôi tận mắt chứng kiến rất nhiều mảnh chum gốm với họa tiết độc đáo lộ ra như chính đất đai đã gìn giữ trong lòng sâu của mình những phồn hoa đô hội một thời.

Trước khi chúa Nguyễn mở mang giao thương với nước ngoài để có một cảng Hội An sầm uất thì ở xứ Trà Liên này với quãng đường từ Cửa Việt lên đây chưa đầy chục cây số đã được sử sách nhắc đến như một thương cảng đô hội nhất Đàng Trong bấy giờ. Linh mục Nguyễn Văn Ngọc, trong bài nghiên cứu “Cửa Việt dưới thời Nguyễn Hoàng và Chúa Sãi (1558-1626)” đăng trên tạp chí Cửa Việt (bộ cũ) số xuân Tân Mùi 1991 (trang 100-104) đã công bố nhiều tư liệu về tầm vóc của vùng cảng Cửa Việt và dinh Trà Bát này.

Những tư liệu của linh mục Ngọc dựa trên những ghi chép của các nhà truyền giáo thế kỷ 16-17 và những nghiên cứu của L.M. Cadière sau này cho thấy các thương thuyền của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Áo Môn (tức Macau – bấy giờ bị Bồ Đào Nha xâm lược năm 1557 và sau này thành thuộc địa của người Bồ Đào Nha) đã đến đây chào quan tổng trấn (tức Nguyễn Hoàng, sau này là Nguyễn Phúc Nguyên). Chính sự sầm uất của cảng Cửa Việt đã khiến tàu nước ngoài vào cướp bóc cư dân ven biển vùng này và Nguyễn Phúc Nguyên đã vâng lệnh cha dẫn mười thuyền chiến đi đánh tan hai thuyền của tướng giặc là Hiển Quý vào năm 1585.

Bây giờ nhìn dòng sông Thạch Hãn cuồn cuộn nước xuôi về Cửa Việt đổ ra biển Đông, nhìn những dấu gạch gốm lẫn vào lòng đất đá bên bờ nước, rồi lăng mộ tư nhân dựng trên nền ngôi chùa xưa là Quốc miếu thờ những công thần, nhìn những dấu vết thành quách đang tan vào cát bụi, dẫu biết không có gì vĩnh cữu trước thời gian, dẫu biết 30 năm bom đạn chiến tranh muôn phần tàn phá nhưng vẫn không thể thầm trách hậu thế đã hững hờ.

LÊ ĐỨC DỤC (Theo Tuổi Trẻ)

_________________________

Hơn 300 năm sau, khi Ái Tử hay Trà Bát không còn là thủ phủ như buổi đầu khởi nghiệp, nhưng hậu thế của Nguyễn Hoàng – vua Hàm Nghi – đã về Quảng Trị xây dựng một kinh đô dự phòng để di đô khi Huế lâm nguy.

Kỳ tới: Kinh đô kháng chiến

Tháng Mười Hai 15, 2008 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà Nguyễn – Lịch sử thăng trầm của một dòng họ – (Kỳ 4): Trên miền đất dựng nghiệp

TT – Tháng 6-1904, linh mục Leopold M. Cadière về làm quản hạt Dinh Cát (xứ Quảng Trị).

Những năm tháng ở đây ông đã nghiên cứu về các chúa Nguyễn trong buổi đầu và sau đó trên tập san của Trường Viễn Đông Bác Cổ (Bulletin de l’École Francaise d’Extrême Orient), trong bài “Le mur de Đồng Hới” in năm 1906, Cadière cho biết thời gian chúa Nguyễn Hoàng đến Ái Tử trong khoảng từ ngày 10-11 đến 10-12 (dương lịch) năm 1558. 450 năm đã qua, trải qua bao nhiêu dâu bể phân tranh, bao thăng trầm lịch sử, trên miền đất Nguyễn Hoàng chọn làm “kinh đô” khởi nghiệp ấy còn lại gì lưu dấu tiền nhân? Còn những gì tưởng niệm tiền nhân?

>> Kỳ 1: Hùng cứ một phương
>> Kỳ 2: Chuyện về một công nữ họ Nguyễn
>> Kỳ 3: Trung tâm giao thương

Thị trấn Ái Tử hôm nay -Ảnh: L.Đ.D.

Buổi đầu đất lạ

Bây giờ khách ngược xuôi trên đường thiên lý Bắc – Nam, qua khỏi thị xã Đông Hà (nếu đi từ Bắc vào) hay vượt qua thành cổ Quảng Trị (đi từ Nam ra) sẽ gặp một thị trấn nhỏ nằm bên sông Thạch Hãn với tấm biển đề: “Thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong”. Chúng tôi tìm về Ái Tử, dấu tích của chúa Nguyễn Hoàng không còn nhiều ở đây nhưng vẫn còn đó những thao thức về miền đất “dung thân” của chúa Nguyễn.

Cách Ái Tử khoảng 60km về phía nam theo quốc lộ 1A là kinh thành Huế lộng lẫy vàng son, lưu dấu vang bóng vương triều nhà Nguyễn. Kinh đô Huế với đền đài cung điện giờ đã là Di sản văn hóa thế giới, còn với sử sách, Ái Tử là kinh đô đầu tiên của cơ nghiệp nhà Nguyễn, là thủ phủ khai nguyên của xứ Đàng Trong. Thời gian gần 70 năm làm thủ phủ chưa phải là dài, nhưng ý nghĩa của miền đất này không đo đếm bằng thời gian mà chính là những gì nó đã mang lại cho nhà Nguyễn trong buổi “vạn sự khởi đầu nan”. Bởi vậy khi Huế được là “chính dinh”, các chúa Nguyễn vẫn không quên tôn phong cho đất Ái Tử này là “cựu dinh”.

Mang theo câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Nguyễn Hoàng lên thuyền về phương Nam với nhiều tráng đinh, nghĩa dũng quê nhà huyện Tống Sơn (Thanh Hóa) cùng nhiều cư dân miền Thanh Nghệ. Câu sấm của Trạng Trình đã được sử sách nhắc đến nhiều. Nhưng sao ngày cất bước ra đi của 450 năm trước ấy, khi đã vượt qua “Hoành Sơn nhất đái”, Đoan quận công Nguyễn Hoàng đã không hạ trại ở phía nam đèo Ngang? Không dừng lại bên sông Gianh? Bên bờ Nhật Lệ? Hay xứ cửa Tùng phì nhiêu màu mỡ mà lại đi sâu vào miền Ái Tử bốn bề cát trắng chơ vơ?

Đại Việt sử ký toàn thư bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697) viết về cuộc ra đi này chỉ mấy dòng ngắn ngủi: “Mậu Ngọ – tháng mười, thái sư Trịnh Kiểm vào chầu dâng biểu tâu xin sai con thứ của Chiêu Huân tĩnh công (tức Nguyễn Kim) là Đoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân vào trấn thủ xứ Thuận Hóa để phòng giặc phía đông”.

Học giả Phan Khoang trong Việt sử xứ Đàng Trong viết chi tiết hơn: “Đoan quận công và đoàn tùy tùng từ cửa Việt lên sông Quảng Trị, đóng dinh tại làng Ái Tử. Năm ấy ông 34 tuổi. Khi Đoan quận công mới đến Ái Tử, dân sở tại đem dâng bảy vò nước trong. Nguyễn Ư Dĩ (quan thái phó, cậu ruột của Nguyễn Hoàng) nói với Đoan quận công rằng: Ấy là điềm trời cho ông nước đó!”.

Miếu Trảo Trảo – Ảnh tư liệu từ B.A.V.H.

Tìm dấu miếu xưa

Dấu vết dinh xưa nay đã tuyệt mù tăm tích. Nhưng cạnh bờ sông, gần sân bay Ái Tử vẫn còn địa điểm một ngôi miếu thờ lưu dấu chiến công của Nguyễn Hoàng trong trận đánh tướng nhà Mạc là Lập Bạo vào năm 1572.

Huyền tích kể rằng Lập Bạo vốn là một tướng tài của nhà Mạc, giỏi về thủy chiến, đưa 60 binh thuyền từ Hải Dương vượt biển lên sông Ái Tử đánh cướp. Thế giặc mạnh, Nguyễn Hoàng đem quân ra bờ sông chống giữ, đêm ấy nằm mộng thấy một người đàn bà mặc áo xanh hiện ra bảo rằng muốn diệt tướng giặc hãy dùng mỹ kế. Vừa tỉnh giấc thấy một tì nữ là Ngô Thị nhan sắc xinh đẹp bước vào. Sực nhớ giấc mộng, Nguyễn Hoàng sai Ngô Thị mang lễ vật đến dâng cho Lập Bạo cầu hòa. Thấy Ngô Thị xinh đẹp, Lập Bạo mê thích nhưng giả bộ cả giận nói rằng: “Ngươi đến đây làm mồi nhử ta chăng?”. Ngô Thị uyển chuyển ứng đáp, rồi dụ Lập Bạo theo mình đi vào nơi quân của Nguyễn Hoàng mai phục. Lập Bạo biết bị lừa nên lao xuống sông.

Vốn là tướng giỏi bơi lặn khó bề bắt được, nhưng Lập Bạo lặn đến đâu thì trên mặt nước có con chim bay tới đó cất tiếng kêu “trảo trảo” như chỉ đường cho quân Nguyễn. Lập Bạo bị bắt, quân nhà Mạc tan tác. Nhớ ơn thần sông giúp rập, Nguyễn Hoàng cho lập đền thờ tại bờ sông Ái Tử, phong là “Trảo Trảo Linh Thu phổ trạch tướng hựu phu nhân”, dân trong vùng gọi là miếu Trảo Trảo. Dấu tích miếu này còn trong một tấm hình ở tạp chí B.A.V.H (Đô thành hiếu cổ).

Những huyền tích trong buổi đầu khởi nghiệp có thể là một cách để gầy dựng thêm lòng tin trong dân gian, giúp cho việc mưu cầu đại nghiệp. Còn vai trò của Nguyễn Hoàng với đất này sử sách còn chép rõ. Nhiều tư liệu lưu đến bây giờ cho thấy dưới thời Nguyễn Hoàng đóng thủ phủ ở miền Quảng Trị, cảng Cửa Việt đã từng sầm uất đô hội. Ngay từ thời đó đã thiết lập thư từ bang giao buôn bán với Nhật Bản. Vết tích trên bến dưới thuyền một thời vang bóng vẫn còn lưu dấu, những gạch đá xây thành vẫn im lặng nhắc nhở, cả pho tượng đồng nguyên vẹn chân dung Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.

Hóa ra vẫn còn rất nhiều dấu vết của Nguyễn Hoàng nơi làng Trà Liên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong – xưa kia đây chính là dinh trấn Trà Bát. Năm 1600 Nguyễn Hoàng đã dời thủ phủ từ Ái Tử về đây. Trà Bát là cái gạch nối giữa Nguyễn Hoàng (với 13 năm đóng đô ở đây đến lúc mất – năm 1613) và người con trai thứ sáu của ông – chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đóng đô thêm 13 năm nữa, trước khi dời thủ phủ vào Phước Yên (Quảng Điền) năm 1626.

LÊ ĐỨC DỤC (Theo Tuổi Trẻ)

__________________

Trước khi chúa Nguyễn mở mang giao thương với nước ngoài để có một cảng thị Hội An sầm uất thì ở xứ Trà Liên đã được sử sách nhắc đến như một thương cảng đô hội nhất Đàng Trong bấy giờ.

Kỳ tới: Dinh xưa, cảng cũ bây giờ

Tháng Mười Hai 12, 2008 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà Nguyễn – Lịch sử thăng trầm của một dòng họ – Kỳ 3: Trung tâm giao thương

TT – Năm 1553, tức năm năm trước khi Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ Thuận Hóa, tiến sĩ Dương Văn An viết trong Ô châu cận lục (bản dịch của Bùi Lương): Thuận Hóa “đất đai chật hẹp, phong tục quê mùa, nhân vật thì thưa thớt buồn tẻ, không ví được với miền Hoan – Ái (tức Thanh – Nghệ – Tĩnh)”.

>> Kỳ 1: Hùng cứ một phương
>> Kỳ 2: Chuyện về một công nữ họ Nguyễn

Chiếc cầu này được các thương nhân người Nhật Bản xây dựng vào khoảng thế kỷ 17, nên người ta còn gọi là cầu Nhật Bản. Năm 1653, người ta dựng thêm phần chùa, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu. Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn với ý nghĩa là “bạn phương xa đến”. Trong ảnh: Chùa Cầu lung linh trong đêm hội Phố Hoài – Ảnh: Hoàng Duy

Xác lập và bảo vệ chủ quyền trên biểnCác chúa Nguyễn đã lập hải đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải để khai thác quần đảo Hoàng Sa (còn gọi là quần đảo Vạn Lý Trường Sa vì lúc đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được xem là một dãy đảo dài vạn dặm), cù lao Côn Lôn và các đảo phía Hà Tiên. Việc làm này đã xác lập chủ quyền của nước ta đối với các hải đảo nói trên.Năm 1702, quân Anh chiếm quần đảo Côn Lôn. Năm sau, trấn thủ Trương Phúc Phan nửa đêm đưa lính đánh đuổi quân chiếm đóng ra khỏi quần đảo.

Chỉ hơn 10 năm cầm quyền của chúa Nguyễn Hoàng sau đó, vùng đất Thuận Hóa đã thay da đổi thịt. Bảng nhãn Lê Quý Đôn ghi nhận trong Phủ biên tạp lục (bản dịch của Viện Sử học): “Chợ không bán hai giá, người không ai trộm cắp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, đổi chác phải giá (…), trong cõi đều an cư lạc nghiệp”.

“Ngọn đũa thần” nào đã mang lại sự đổi thay đó?

Kiếm được rất nhiều mối lợi

So với Đàng Ngoài, Đàng Trong là vùng đất mới, tiềm năng thiên nhiên chưa được khai thác, nhân lực tại chỗ vô cùng thiếu thốn. Để đối phó với họ Trịnh ở phía Bắc, Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đời sau phải tìm phương cách làm cho Đàng Trong nhanh chóng giàu mạnh, đó là phát triển thương mại, mở rộng ngoại thương.

Trong luận án tiến sĩ “Xứ Đàng Trong – lịch sử xã hội và kinh tế Việt Nam thời Nguyễn ở các thế kỷ 17-18”, Li Tana nhận định (bản dịch của Nguyễn Nghị): “Đối với các nước khác ở Đông Nam châu Á, vấn đề ngoại thương có thể chỉ là vấn đề làm giàu, nhưng đối với Đàng Trong vào buổi đầu, đây là vấn đề sống còn”.

Đây là một chính sách mới so với các triều đại trước và kể cả với vương triều Nguyễn sau này, vì bao triều đại trước vẫn chủ trương “lấy nông nghiệp làm gốc” (dĩ nông vi bản), không mặn mà lắm với việc buôn bán với nước ngoài, chỉ cho phép thuyền buôn ngoại quốc cập bến tại một số cảng chứ không cho vào sâu trong nội địa.

Cristophoro Borri, một nhà truyền giáo người Ý sống ở Đàng Trong từ 1618-1622, nhận xét (bản dịch của Hồng Nhuệ và Nguyễn Nghị): “Chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc (…) cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ”. Các chúa Nguyễn chủ động mời gọi các nước đến mua bán với Đàng Trong.

Ngày nay chúng ta có thể tìm thấy trong sách Ngoại phiên thông thư của Kôndôh Juuzôu nhiều công hàm của các chúa Nguyễn gửi cho chính quyền Nhật Bản từ năm 1601-1694. Công hàm đầu tiên là của chúa Nguyễn Hoàng gửi tướng quân Tokugawa Ieyasu bày tỏ lòng mong muốn thông thương Đàng Trong – Nhật Bản.

Năm 1617-1618, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng gửi thư mời Công ty Đông Ấn của Hà Lan sang buôn bán… Borri viết: “Chúa Nguyễn thu được lợi nhuận lớn trong việc buôn bán (với nước ngoài) này bằng thuế hàng hóa và thuế hải khẩu đặt ra và cả nước đều kiếm được rất nhiều mối lợi không thể tả hết”.

Đàng Trong đã sớm trở thành một trung tâm giao thương quốc tế. Ngoài những khách hàng quen thuộc đến từ Trung Hoa, Chân Lạp, Xiêm, Batavia (Indonesia), Đàng Trong còn đón nhận thương nhân các nước Nhật Bản, Bồ Đào Nha (từ thuộc địa Macao), Tây Ban Nha (từ thuộc địa Philippines), Hà Lan, Anh, Pháp…

Ngoại thương kích thích sự phát triển sản xuất của nhiều địa phương. Các làng nghề xuất hiện ngày càng nhiều để cung ứng cho hàng xuất khẩu. Tính chất của nền kinh tế từ đó thay đổi: từ sản xuất tự cấp tự túc chuyển sang sản xuất hàng hóa. Một số đô thị ra đời: Đà Nẵng, Tam Kỳ (Quảng Nam), Thanh Hà (Thừa Thiên – Huế), Nước Mặn (Bình Định)…, nhưng thịnh vượng nhất là Hội An.

Phần mộ ông bà Araki Sutaru ở Nagasaki – Ảnh: Ma Cẩm Long Hà

Hải cảng đẹp nhất Đàng Trong

Borri mô tả Hội An là “hải cảng đẹp nhất Đàng Trong, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới”, là “một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một của người Tàu, một của người Nhật”. Một thương nhân Quảng Đông nói với Lê Quý Đôn: “Thương nhân Trung Hoa từ Quảng Nam về thì các hàng hóa không món gì không có. Hàng hóa sản xuất ở các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Khang và dinh Nha Trang, đường thủy đường bộ, đi thuyền đi ngựa, đều hội tập ở phố Hội An, vì thế khách phương Bắc (tức Trung Hoa) đều đến tụ tập ở đây để mua về nước… Hàng hóa nhiều lắm, dù trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được”.

Các chúa Nguyễn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thương nhân nước ngoài, nhất là thương nhân Nhật Bản. Đàng Trong trở thành bạn hàng số một của xứ Phù Tang. Năm 1619, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gả con gái cho thương nhân Nhật Bản Araki Sutaru, ban cho Araki tên Hiển Hùng và cho mang họ chúa (Nguyễn Phúc). Sau đó, Araki đưa vợ về thăm quê ở Nagasaki. Tại đây, bà có tên Oukakutome (Vương Gia Cửu Hộ Mại) và còn được gọi một cách thân mật là Anio. Không may, từ năm 1636, vì nhiều lý do, nhà cầm quyền Nhật ra lệnh tỏa quốc cấm thương nhân Nhật ra nước ngoài buôn bán. Vì vậy, hai vợ chồng Nhật – Việt không còn dịp trở lại Đàng Trong nữa.

Bà Anio qua đời ngày 7-11-1645, còn ông mất trước đó chín năm. Mộ hai ông bà Araki Sutaru hiện vẫn còn ở Nagasaki. Hiện nay Bảo tàng nghệ thuật Nagasaki vẫn còn lưu giữ một gương soi của bà Anio mang từ Đàng Trong qua. Vì Quốc sử quán của nhà Nguyễn hoàn toàn không nói tới cuộc hôn nhân Đàng Trong – Nhật này nên đến nay chúng ta vẫn chưa tìm ra tên chính xác của bà.

Công cuộc mở cửa của các chúa Nguyễn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn làm phong phú đời sống văn hóa ở Đàng Trong. Hội An với những di tích văn hóa nổi bật tồn tại qua năm tháng đã được Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1999.

TS PHAN VĂN HOÀNG (Theo Tuổi Trẻ)

—————————————-

Cho đến hôm nay, trải qua bao thăng trầm lịch sử, trên miền đất Nguyễn Hoàng chọn làm “kinh đô” khởi nghiệp, 450 năm qua, còn lại gì lưu dấu tiền nhân?

Kỳ tới: Trên miền đất dựng nghiệp 

Tháng Mười Hai 12, 2008 Posted by | 8. Bên ngoài xứ Quảng | Bạn nghĩ gì về bài viết này?