XỨ QUẢNG

Hiệu quả chi tiêu ngân sách nhìn từ Đà Nẵng

SGTT.VN – Lễ hội pháo hoa quốc tế hoành tráng tại thành phố Đà Nẵng đã kết thúc. Phải nói rằng, một trong những thành công của lễ hội này là ngân sách nhà nước đã không phải bỏ ra đồng nào nhờ sự hào phóng của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố. Theo thông tin từ ban tổ chức, 50 tỉ đồng tài trợ cho lễ hội chủ yếu đến từ các doanh nghiệp địa ốc. Nói vui, nếu có cuộc thi nữa cho các nhà tài trợ thì các doanh nghiệp địa ốc sẽ đoạt cả giải vàng, bạc, đồng và thậm chí cả giải khuyến khích.

Sự áp đảo của các doanh nghiệp địa ốc cho thấy sự lên ngôi của ngành bất động sản trong bộ mặt kinh tế của thành phố Đà Nẵng. Thị trường địa ốc Đà Nẵng có vẻ là thị trường ăn nên làm ra, những con số thống kê ấn tượng những năm vừa qua cho thấy lượng nhà bán ra ở đây liên tục tăng lên và giá cả cũng không ngừng leo thang. Khi đã ăn nên làm ra thì các doanh nghiệp địa ốc sẵn sàng chi để nâng cao hình ảnh và thanh thế của mình.

Tuy nhiên, sự khởi sắc của ngành bất động sản Đà Nẵng cũng mang lại lắm thách thức. Thống kê của Savills có lẽ sẽ làm cho các nhà kinh tế, nhà làm chính sách và các nhà lãnh đạo lo ngại, đó là trên 80% khách bất động sản đến từ Hà Nội và 13% đến từ TPHCM. Câu hỏi đặt ra là bao nhiêu % trong những khách mua sẽ thực sự sống ở đây? Câu trả lời mà nhiều người có thể đoán được là không đến 10%. Điều này có nghĩa là các khách mua ở đây chủ yếu là nhà đầu tư và khi lượng khách mua để đầu tư chiếm đến 90% thì dù muốn dù không vẫn có thể gọi họ là những nhà đầu cơ; mà đã đầu cơ thì sớm hay muộn sẽ có bong bóng. Khi bong bóng nổ, hậu quả sẽ khó lường, không chỉ cho nền kinh tế địa phương này mà còn đối với cả nước.

Những diễn biến nóng sốt trên thị trường bất động sản Đà Nẵng không phải ngẫu nhiên mà có. Đây là hệ quả của chính sách phát triển kinh tế của địa phương này. Ngay từ khi Đà Nẵng được công nhận là thành phố trực thuộc trung ương, nhiều chính sách ưu đãi đã được áp dụng để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của địa phương. Một trong những chính sách rầm rộ và ấn tượng nhất là chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng. Trong giai đoạn từ năm 2003 – 2008, chi đầu tư phát triển mà chủ yếu là chi đầu tư cơ sở hạ tầng chiếm tỷ trọng trên 50% chi tiêu ngân sách của Đà Nẵng.

Mặt tích cực của những khoản chi tiêu này là bộ mặt đô thị nhanh chóng được hiện đại hoá, nhưng mặt tiêu cực là dù cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể nhưng kinh tế không tăng trưởng tương xứng. Chi tiêu công tăng trung bình 30%/năm và tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư xã hội cao hơn mức trung bình cả nước trong khi kinh tế tăng trưởng vào khoảng 11%/năm cho thấy sự phụ thuộc vào đầu tư công của tăng trưởng kinh tế ở Đà Nẵng. Điều này đặt ra một câu hỏi: liệu những hạ tầng mà Đà Nẵng đang đầu tư có mang lại sự phát triển kinh tế như kỳ vọng hay đây chỉ là những khoản đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhất thời mà một trong những hệ luỵ của nó là những đợt nóng sốt bất động sản liên tục ở Đà Nẵng?

Một đặc điểm quan trọng cần lưu ý là nguồn vốn đầu tư công chủ yếu được tài trợ từ nguồn thu tiền sử dụng đất – trung bình giai đoạn 2003 – 2007 chiếm trên 50%, năm 2008 lên mức cao nhất là 70,86% – trong khi quỹ đất vốn không nhiều của Đà Nẵng ngày càng cạn kiệt. Nói cách khác, chủ trương “biến quỹ đất thành nguồn vốn phát triển hạ tầng giao thông, kinh tế – xã hội” của lãnh đạo Đà Nẵng đã không mang lại hiệu quả cao khi mà thành phố đã sử dụng hầu hết nguồn vốn đất của mình để tài trợ cho cơ sở hạ tầng nhưng cho đến nay vẫn chưa tạo được cú hích phát triển kinh tế như mong đợi.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang lạm phát cao – mà một trong những nguyên nhân chính là tính kém hiệu quả của hoạt động chi tiêu ngân sách – thì sự thiếu bền vững của cơ cấu ngân sách một địa phương được xem là kiểu mẫu trong quá trình phát triển như thành phố Đà Nẵng đặt ra nhiều câu hỏi và bài học về tính hiệu quả trong quản lý ngân sách ở các địa phương.

Nhìn rộng ra, có thể thấy cơ cấu ngân sách của thành phố Đà Nẵng không bền vững. Nguồn thu chủ yếu của Đà Nẵng là từ thu tiền sử dụng đất, chiếm 42% ngân sách trong giai đoạn 2003 – 2007, các khoản thu phân chia mà chủ yếu các loại thuế chỉ chiếm 17,8% mặc dù tỷ lệ giữ lại mà Quốc hội đang áp dụng cho Đà Nẵng lên đến 90% (tỷ lệ này ở Hà Nội là 32% và TP.HCM 29%). Các khoản thuế có độ nổi cao và bền vững như thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ chiếm 4,4% ngân sách và thuế thu nhập cá nhân chiếm khoảng hơn 1% hoàn toàn không tương xứng với tiềm năng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người của Đà Nẵng vốn gấp hai lần cả nước. Một nghịch lý nữa là khi bất động sản Đà Nẵng đang sốt, quỹ đất đã sử dụng gần hết thì các khoản thu về thuế nhà đất và cho thuê đất chỉ chiếm 1% thu ngân sách. Điều này cho thấy những lợi ích từ việc sử dụng đất không thuộc về Nhà nước (đại diện của người dân). Cơ cấu nguồn thu ngân sách Đà Nẵng một lần nữa cho thấy rằng hoạt động kinh tế Đà Nẵng không tương xứng với tiềm năng kinh tế và cơ sở hạ tầng mà Đà Nẵng đang có (xem biểu đồ Cơ cấu thu ngân sách Đà Nẵng).

Về chi ngân sách, như đã nói ở trên, các khoản chi chủ yếu của Đà Nẵng là chi đầu tư cơ sở hạ tầng trên 50% ngân sách hàng năm. Trong khi đó, các khoản chi cho giáo dục đào tạo, y tế giai đoạn 2003 – 2007 gần như không đổi về giá trị và giảm một nửa về tỷ trọng. Điều này cho thấy những ưu tiên phát triển của Đà Nẵng đang hướng đến các mục tiêu rất ngắn hạn.

Sau gần 15 năm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, bộ mặt đô thị Đà Nẵng đang trở thành đô thị kiểu mẫu của cả nước nhưng cơ cấu ngân sách của Đà Nẵng thì rõ ràng không thể nói là kiểu mẫu mà các tỉnh, thành phố khác nên/cần noi theo. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế đang lạm phát cao – mà một trong những nguyên nhân chính là tính kém hiệu quả của hoạt động chi tiêu ngân sách – thì sự thiếu bền vững của cơ cấu ngân sách một địa phương được xem là kiểu mẫu trong quá trình phát triển như thành phố Đà Nẵng đặt ra nhiều câu hỏi và bài học về tính hiệu quả trong quản lý ngân sách ở các địa phương. Việc chống lạm phát, nâng cao hiệu quả đầu tư công không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan Trung ương mà trong nhiều trường hợp, nó là trách nhiệm lớn của chính quyền địa phương.

Hoàng Xuân Huy

Advertisements

Tháng Năm 8, 2011 Posted by | 9. Đọc và suy ngẫm | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phát ngôn và hành động: “Đỉnh” và “Đáy” của năm 2010 (II)

Năm 2011 đã đến. Cầu mong đó là một năm xã hội bình yên, an lành. Những tổn thương, mất mát niềm tin của con người về những cái Đáy tối tăm, bất tín bất nghì, rồi sẽ kéo da non. Bởi vẫn còn đây, những cái Đỉnh của trí tuệ, của văn hóa Việt, và của lòng nhân nghĩa Việt… vẫn rạng ngời và bất biến. Bất biến như câu ca dao của ông cha ta tự ngàn xưa: “Đừng than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”

Phát ngôn và hành động: “Đỉnh” và “Đáy” của năm 2010 (I)

Nổi tiếng- tai tiếng và…ký tên

Có một công ty lớn khá nổi tiếng trên thế giới bởi sự đầu tư làm ăn với nhiều quốc gia. Nhưng khi làm ăn với Việt Nam thì họ trở nên tai tiếng. Đó là công ty bột ngọt Vedan. Khi hiểu rõ ngọn nguồn của sự tai tiếng, người ta phải thốt lên mà triết lý: “Bột ngọt mà đắng”.

Đúng. Bột ngọt mà đắng! Ngọt với Vedan mà đắng ngắt với người Việt Nam.

Bởi suốt 14 năm qua, từ khi đầu tư, xây dựng và sản xuất bột ngọt trên đất nước hình chữ S này, âm thầm giẫm đạp lên những quy định của nước sở tại, ngay từ đầu, hệ thống xả thải của Công ty Vedan được thiết kế cực kỳ bí mật, đã xả thẳng 5000 m3 nước phế thải/ ngày ra sông Thị Vải, để trốn hơn 90 tỷ đồng phí nước thải.

Việc làm đó tưởng khôn, mà thực ra không ngoan. Bởi cho dù có xả thải một cách bí mật nước phế thải, thì con sông Thị Vải suốt hơn chục năm nhẫn nại chịu đựng, cuối cùng đã phải ô nhiễm công khai. Cũng có nghĩa là đẩy hàng ngàn hộ nông dân 3 tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, t/p Hồ Chí Minh và Đồng Nai vào vòng bế tắc của mưu sinh.

Công ty sản xuất bột ngọt mà với người Việt sao đắng!

Điều lạ, từng ấy năm trời, người dân Việt 2 bên bờ sông chỉ biết thở than. Từng ấy năm trời chính quyền địa phương nhận đơn khiếu nại của dân để rồi…im lặng đáng sợ.  Từng ấy năm trời Bộ Tài nguyên- Môi trường, cơ quan chủ quản cũng im lặng đáng sợ nốt.

Chỉ đến khi báo chí phát tín hiệu SOS, chở diện mạo con sông lên đầy mặt báo, thì khi đó, con sông mới được các cấp quản lý, các ngành chức năng xúm lại chẩn bệnh. To tiếng nhất cũng là Bộ chủ quản. Khi vị Bộ trưởng cho biết rằng, 2 năm trước ông đã phát hiện ra con sông mắc bệnh, chỉ có điều ông không nói!

Chỉ khi đó, sự đau đớn của con sông mới làm xã hội, những người có lương tâm thật sự thấy đau đớn. Và thúc đẩy họ hành động. Không chỉ những người dân, mà còn có cả các nhà luật pháp, các tổ chức, đoàn thể, và cả Bộ chủ quản sẵn sàng đồng hành cùng người dân tìm lẽ phải.

Vậy nhưng cho dù dân khiếu kiện, cho dù các cấp, các ngành quản lý của địa phương lên tiếng, cho dù báo chí ồn ào phẫn nộ lên án…thì tất cả mọi phản ứng đó cũng không sao có sức nặng bằng, khi người dân Việt, hệ thống các siêu thị bất bình, đồng tâm tuyên bố tẩy chay không tiêu thụ bột ngọt Vedan. Chỉ khi đó, thái độ cò cưa, quanh co chối tội, ngụy biện, mặc cả… của Vedan mới ngọt như thứ bột họ vẫn sản xuất.

Lợi nhuận chi phối tất thảy, sự gian dối, sự chây lì, và cả sự…cầu thị (!)

Sự đồng lòng, đồng tâm cuối cùng cũng dẫn đến cái kết có hậu: Sau những ồn ào khiếu kiện, tranh cãi chầy cối, đến thời điểm này, Vedan nổi tiếng kèm tai tiếng, đã phải cúi xuống ký tên đồng ý bồi thường cho 3 tỉnh nói trên với số tiền 53,6 tỷ đồng cho nông dân Bà Rịa- Vũng Tàu; 45,7 tỷ đồng cho nông dân huyện Cần Giờ (TP HCM); và đặc biệt, gần 120 tỷ đồng cho nông dân Đồng Nai, tỉnh thiệt hại nặng nhất. Đợt 1; 60 tỷ đồng, và đợt 2: Gần 60 tỷ đồng nữa sẽ chuyển vào ngày 14-1-2011 tới đây.

Ảnh Thể Thao – Văn hóa.

Những bài học đắng ngắt từ Vedan ở góc độ nào đó, lại “cống hiến” cho chúng ta những bài học bổ ích. Cảnh báo và buộc xã hội chúng ta phải tỉnh ngộ về nhiều điều: Sự quan liêu, vô tình, vô cảm của cán bộ với lợi ích người dân. Sự hấp dẫn chết người của đồng tiền nhẫn tâm. Sự cần thiết phải có một thiết chế quản lý xã hội dân sự công khai, minh bạch, dựa trên nền tảng pháp luật chặt chẽ của nhà nước, và hiểu biết pháp luật cùng quyền hạn của người dân. Có thế, mới có thể ngăn ngừa được những Vedan khác.

Bởi bản chất của nhà tư bản là lợi nhuận, nên Vedan không phải là doanh nghiệp nước ngoài duy nhất, cũng không phải doanh nghiệp cuối cùng dám qua mặt tất cả những quy định mang tính luật pháp của nước sở tại.

Cũng không cứ anh nước ngoài, nhiều anh doanh nghiệp trong nước, vì lợi ích riêng mình, cũng sẽ sẵn sàng làm ô nhiễm môi trường, chừng nào họ có thể làm ô nhiễm mà không bị bắt quả tang. Và cũng chừng nào mà cán bộ quản lý các cấp, từ dưới lên trên, biết hết đấy nhưng các bác cũng lại biết… im lặng, mà không nói.

Bởi trong thời buổi này, chữ Tín trong kinh doanh là con chữ cao quý nhất, nhưng cũng lại mong manh quá, mong manh không chịu nổi. Mà bên cạnh chữ Tín, còn có chữ Tiền. Cái chữ Tiền đáng yêu lại nặng ngàn cân và cũng quyến rũ quá, quyến rũ đến không chịu nổi…

Vì thế, chữ Tâm càng cần phải được mài giũa, được bồi đắp, bắt đầu từ cán bộ cơ sở, những người gần dân nhất, và cũng rất có thể, dễ xa dân nhất.

Đỉnh bi thương, bất trắc gặp đáy của bất tín, bất nghi

Năm 2010 rồi sẽ qua, nhưng trong lịch sử bão lũ, chắc chắn cơn lũ dữ miền Trung sẽ được nhắc nhớ đến như một cái đỉnh của bi thương và bất trắc mà con người phải đối mặt, phải chịu đựng, trả giá và cuối cùng phải gắng vượt lên.

Bi thương, vì không dưng, bỗng nhiên hơn 100 con người vô tội một đêm tỉnh dậy, thấy 3 bên 4 bề là lũ, lũ và lũ… Để rồi chỉ sơ sểnh một chút họ đã  về thế giới bên kia. Bi thương, vì không dưng bỗng nhiên có rất nhiều con người bất đắc dĩ phải thực hành bài học lịch sử- làm người nguyên thủy, sống trong hang đá, ăn thịt con vật đã chết, để tìm sự sống. Sự sống vốn bao dung, mà sự sống sao cũng quá khắc nghiệt.

Bất trắc, chỉ vì chủ quan, phiêu lưu và ngông cuồng, mà Trần Văn Trường, kẻ lái xe coi mạng hành khách “nhẹ ngàn cân” đã bất lực để lũ cuốn trôi chiếc xe xuống sông Lam (Nghi Xuân- Hà Tĩnh) để lũ cuốn theo 20 con người vô tội. Khi Trường nhận ra sự ngông cuồng của mình thì đã quá muộn. Cái chết tức tưởi của 20 hành khách để lại trong lòng người thân của họ, đồng bào cả nước, nỗi xót thương và sự bất bình căm phẫn. Có lẽ, giờ đến lượt nỗi ân hận ở lương tâm Trường mới là lúc “ngông cuồng”.

Trục vớt xe bị nước lũ cuốn trôi.

Nhưng sự ghê gớm và nghiệt ngã của cơn lũ dữ 2010 còn ở chỗ này: Nó thách thức cao nhất phẩm cách, bổn phận người cán bộ với đồng bào mình. Thử thách cao nhất sự nhân ái, sự tín nghĩa của con người với con người. Trong cuộc thử thách bất ngờ của thiên tai ấy, có những cán bộ thuộc bài, có cán bộ bị điểm liệt (điểm 0). Có những con người lao động mang tấm lòng vàng 10, và ngược lại, có không ít kẻ đại gia mang tấm lòng vàng… mỹ ký.

Cơn lũ dữ vô tình lại như một hình ảnh đối nghịch oái oăm, thử thách cái tầm, cái tâm của Hà Nội, đúng lúc Thủ đô chuẩn bị kỷ niệm Đại lễ. Khỏi nói, trên mạng Internet, trên các blog cá nhân, sự tranh cãi phân cực về Đại lễ, không xuất phát từ túi tiền của Thủ đô, mà xuất phát từ cảnh ngộ thương tâm của người dân miền Trung.

Chờ đợi mãi, cuối cùng anh cũng….nói” (ý thơ Hoàng Nhuận Cầm). Bí thư Thành ủy HN Phạm Quang Nghị trong cuộc trả lời phỏng vấn với báo giới cho biết Thủ đô quyết định dừng bắn pháo hoa tối 10-10 (trừ 1 điểm tại Mỹ Đình), lấy tiền- 5 tỷ đồng- ủng hộ đồng bào miền Trung. Mọi sự tranh luận của mạng ảo như chùng hẳn xuống, giải tỏa.

Cũng tiếc thay, trong cuộc thử thách của thiên tai, có cán bộ đã bị điểm liệt. Đó là trường hợp ông Nguyễn Văn Tuấn, Chủ tịch xã Đức Lạc (Đức Thọ- Hà Tĩnh). Mặc dù ca nô của lực lượng công an đến tận nhà đón ông đi cùng để cứu dân, nhưng ông đã từ chối, với một câu nói hồn nhiên: “Anh thông cảm, mẹ tôi đau nặng, nhà ngập và nước vào sâu, mong anh xem xét“. Có thể ông Tuấn là một người con thật sự có hiếu với mẹ. Nhưng lại là người cán bộ “bất hiếu” khi thật sự vô tình với dân. Ông đã bỏ mặc dân trong thời khắc người dân cần đến cán bộ hơn lúc nào hết.

Dù vậy, việc bỏ rơi dân vì lợi ích riêng, như trường hợp cán bộ Tuấn không khiến người dân sốc và ngạc nhiên. Bởi trong đời sống xã hội hiện đại này, hình như có không ít cán bộ đã hành xử như vậy. Ở góc độ nào đó, cán bộ Tuấn còn đáng được ghi điểm thật thà. Bởi có những cán bộ không bỏ dân công khai như ông Tuấn, mà bỏ dân… bí mật, vì lợi ích riêng mình. Thế mới có câu nói trở thành thành ngữ hiện đại: “Nói vậy, mà không phải vậy“.

Nhưng vẫn có rất nhiều những người dân, người cán bộ nói vậy, và làm vậy. Họ là cụ bà Trần Thị Quyên đã 81 tuổi, lụm cụm đến tòa soạn một tờ báo để góp 1 triệu đồng- số tiền lương hưu cụ vừa lĩnh. Cụ bảo đọc báo không cầm được nước mắt trước cảnh tang thương của đồng bào nên vừa lĩnh lương hưu xong là bắt xe ôm từ Thủ Đức (TP. HCM) đến ngay.

Có hàng triệu triệu lượt con người, cán bộ, sĩ quan, cựu chiến binh, nhà giáo… trong cả nước có tấm lòng giàu có như cụ Quyên, với mức độ đóng góp khác nhau. Có hàng nghìn doanh nghiệp, nhà hảo tâm trong cả nước có tấm lòng giàu có như cụ Quyên. Đó là những tấm lòng vàng 10, và đồng tiền của họ cũng thấm đẫm mồ hôi lao động. Điều đó, hẳn cũng làm ấm lòng, cũng an ủi được ít nhiều những khổ đau mà người dân miền Trung đang phải gánh chịu.

Đỉnh điểm của bi thương dẫn đến đỉnh điểm của sự từ thiện. Có điều, cuộc sống không bao giờ hiểu hết chữ Ngờ. “Đêm hội Hoa hậu Trái đất và doanh nhân hướng về miền Trung” được tổ chức và được Đài truyền hình VN phát trực tiếp tối 11-11, khi vỡ lở sự thật, lại cho thấy cái đáy rỗng của sự bất tín, bất nghì.

Bất tín, bất nghì, vì kết quả đấu giá bán tại chỗ 4 vật phẩm được quảng cáo là cực kỳ quý giá- lên tới 74 tỷ đồng, thực ra chỉ là kết quả ảo. Ban Tổ chức thu được duy nhất …100 triệu đồng của một công ty TNHH và vài triệu đồng của các cá nhân.

Duy nhất bộ “Tứ linh hội tụ” bằng gỗ lũa hóa thạch có người mua thật. Tuy nhiên thay vì số tiền 47,9 tỷ đồng, phía mua chỉ đồng ý quyên góp số tiền 1 tỷ đồng với lý do lãng xẹt- chủ nhân của vật phẩm trên đã tự ý di chuyển sản phẩm ra khỏi vị trí bán đấu giá. Hay họ cũng đã ngửi thấy cái trò “kẻ cắp”, nên lập tức giở mẹo “bà già”?

Bất tín, bất nghì, vì hóa ra, không chỉ có các đại gia đấu giá ảo như một trò đùa độc ác, bất nhẫn, mà ngay cả Ban Tổ chức, sau những điều tra cặn kẽ, cụ thể của báo giới, cũng phơi bầy một sự thật khó tưởng tượng.

Ông Võ Ngọc Hà (SN 1978) – chủ nhân bộ “Tứ linh hội tụ” được đem ra đấu giá tới 47,9 tỷ đồng, (người tự cho mình là nạn nhân của vụ đấu giá ảo) vẽ hươu vẽ vượn khi kể lại hành trình ly kỳ ròng rã suốt 5 năm trời đi tìm bốn tứ linh “long, lân, quy, phụng”, vẽ hươu vẽ vượn về duyên trời, lộc trời của bộ tứ linh. “Vì thế món quà này sẽ càng có ý nghĩa hơn khi cứu giúp những người bất hạnh“.

Bộ tứ linh hội tụ.

Linh đâu không thấy, chỉ thấy sự thật là trò dối gian. Hành trình tìm bảo vật của ông Hà đã bị báo chí lôi ra ánh sáng, rằng đó chỉ là bịa đặt. Ông Hà đã bỏ tiền ra mua bốn “linh vật” với giá 20 triệu đồng, và dàn dựng “đấu giá từ thiện”. Kết quả, ông cũng được 47,9 tỷ đồng… ảo! Đúng là cao nhân tất có cao nhân trị.

Sau những tài trợ sữa trẻ em quá đát, quần áo xi líp, xu chiêng rách chỉ có thể làm giẻ lau, là màn từ thiện quái chiêu và thất đức, người dân miền Trung sẽ cảm nhận thế nào về nghĩa đồng bào?

Các bậc tiền nhân, cha ông chúng ta xưa còn nghèo, nhưng luôn biết sống theo đạo lý “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”. Vậy mà nay, có những đại gia giầu có bạc tỷ, mà tấm lòng lại là vàng mỹ ký. Chất lượng lượng cuộc sống cao, mà sao đạo lý lại tụt?

Đỉnh của thứ tha và nhân nghĩa…

Có một câu chuyện của một con người bé nhỏ, diễn ra vào thời khắc những tháng cuối năm, đã khiến con tim của những ai được chứng kiến vô cùng xúc động. Xúc động vì vẻ đẹp những giá trị tinh thần nhân văn ở nơi con người ấy, và vì thế người viết bài này xin chọn để làm cái kết cho mục Phát ngôn và hành động năm 2010.

Đó là ông Vũ Minh Tằng, một chiến sĩ cách mạng bị lao tù tại Phú Quốc, vừa có chuyến vi hành trở lại nơi đây, để gặp lại Bảy Nhu, nguyên thượng sĩ, cai ngục tại nhà tù Phú Quốc năm xưa, một cai ngục được mệnh danh là “Ác Quỷ”. Bảy Nhu đã từng đích thân bẻ gẫy cả 9 cái răng của ông Tằng, bắt ông nuốt cả răng và máu, đập vỡ đầu gối và dùng đinh sắt dài hàng chục cen ti met đóng vào đó, bắt ông vê cơm lẫn phân và máu để ăn…

Số phận khốc liệt đã cho họ gặp mặt ở cả 2 thì: Quá khứ và Hiện tại. Quá khứ là người tù cộng sản kiên trung và cai ngục tàn ác. Hiện tại là 2 công dân chung sống dưới một bầu trời. Quá khứ là tuổi trẻ đầy niềm tin vào lý tưởng yêu nước, trực diện với tuổi trẻ cuồng ngông của thân phận tay sai. Hiện tại là cả hai con người tóc đã bạc, da đã mồi, đều đứng ở bên kia dốc cuộc đời để ngẫm nghĩ về lẽ nhân sinh của kiếp người.

Quá khứ, người kia là nỗi kinh hoàng của người này. Hiện tại, người này là nỗi kinh hoàng của người kia. Quá khứ, ngục tù là cuộc sồng đầy ải của người này. Hiện tại, cuộc sống tự do giữa đồng loại mới là sự đầy ải của người kia. Người này, thân thể ốm đau. Người kia, tinh thần đau ốm, chết chưa tới mà sống cũng dở…

Sự gặp lại của 2 số phận khốc liệt ấy, có cây cầu nối là những tấm lòng. Có lẽ, trong sâu xa của những tấm lòng ấy, muốn thấy được sự hòa giải, sự thứ tha, để mỗi người trong cuộc gặp gỡ bất đắc dĩ của quá khứ, cuối cùng tìm thấy được sự bình yên trong hiện tại, sau rất nhiều những đêm dài mất ngủ. Người này vì những vết thương cơ thể bị tra tấn tàn khốc, và người kia vì những cơn đau hãi sợ với lương tâm.

Đương nhiên, sự hòa giải và thứ tha không thể đến ngay. Vì nỗi căm hận quả thật khó có gì so sánh, nếu ta biết được, những ngày xưa ấy, người chiến sĩ  cách mạng Vũ Minh Tằng, đã từng lén bới phân của chính mình, tìm lại được 8 cái răng, và những chiếc răng ấy cùng ông suốt cuộc sống ngục tù, cho đến khi ông được trao trả sau Hiệp định Paris. Những chiếc răng luôn nhắc ông nỗi đau và nỗi hận thấu tim.

Ông Tằng đã rít lên và đã muốn đập chết kẻ tử thù ngay khi gặp lại. Thế nhưng, trực diện với ông giờ đây, bất ngờ, chỉ là sự thảm hại, sự cô độc, sự già nua và yếm thế. Và cái hình ảnh ấn tượng nhất với ông là kẻ tử thù ấy chìa ra cánh tay nhăn nheo, đầy những vết đồi mồi: Tôi đây, ông đánh bao nhiêu thì cứ đánh”. Cái sự bất lực của Bảy Nhu đã khiến ông Tằng trở nên …bất lực!

Không biết 2 kẻ thù ấy đã nói với nhau những gì? Có lẽ chỉ những con sóng biển xanh và trời xanh Phú Quốc là nghe được. Chỉ biết cuối cùng, thật bất ngờ, ông Vũ Minh Tằng đột ngột rút ví tặng ông Bảy Nhu một ít tiền (phụ cấp bệnh binh): “Tôi có mấy đồng, để bác mua thêm một chén thuốc dưỡng bệnh. Đời tôi với bác bây giờ có sống được cũng chỉ là nhờ thuốc thang mà thôi”.

Chỉ biết, sau câu nói ấy, cả 2 người đàn ông, người này 70, người kia 83 tuổi, đều khóc.

Sau tiếng khóc, tâm hồn họ bình yên…Cho dù, người này, là đỉnh trời, và người kia là đáy vực (mượn ý của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng)

Họ, người này cuối cùng đã thứ tha cho người kia. Tôi bỗng tin, đêm đó, sẽ là đêm bình yên đầu tiên của Bảy Nhu, trong những ngày còn lại của cuộc đời.

Khi tâm hồn con người ta bình yên, ấy là sự góp phần cho xã hội bình yên.

*    *     *

Năm 2011 đã đến. Cầu mong đó là một năm xã hội bình yên, an lành. Những tổn thương, mất mát niềm tin của con người về những cái Đáy tối tăm, bất tín bất nghì, rồi sẽ kéo da non. Bởi vẫn còn đây, những cái Đỉnh của trí tuệ, của văn hóa Việt, và của lòng nhân nghĩa Việt… rạng ngời và bất biến. Bất biến như câu ca dao của ông cha ta tự ngàn xưa: Đừng than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây!”

VietNamNet – Kỳ Duyên

Tháng Một 2, 2011 Posted by | 9. Đọc và suy ngẫm | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phát ngôn và hành động: “Đỉnh” và “Đáy” của năm 2010

Chỉ còn một ngày nữa, cánh màn thiên thanh của năm 2010 sẽ khép lại. Một năm cũ của cả đất nước sẽ qua đi. Đây là một năm khá đặc biệt, vì có những sự kiện đạt tới điểm Đỉnh của trí tuệ, của văn hóa, của ý chí và khát khao, của sự bi thương cùng bất trắc. Lại cũng có những vụ việc rơi xuống tận Đáy của sự tăm tối, của những rủi ro, mất mát lớn….

Mục Phát ngôn và Hành động tuần này vì vậy, cũng là Phát ngôn và Hành động của năm 2010, mong được gửi đến bạn đọc để cùng chia sẻ, đồng cảm và suy ngẫm về những vấn đề đạo lý- văn hóa của một xã hội.

Đỉnh của trí tuệ, văn hóa

Đỉnh của trí tuệ năm 2010 – không thể khác – đó là sự kiện GS Ngô Bảo Châu, người Việt đầu tiên được nhận Giải thưởng Toán học Fields danh giá với Công trình “Bổ đề cơ bản” – một công trình trong “Chương trình Langland” được ước tính sẽ đòi hỏi công sức của nhiều thế hệ các nhà toán học mới có thể hoàn thành. Nhưng GS Ngô Bảo Châu đã chứng minh được nó chỉ sau 15 năm nghiên cứu.

Theo các nhà toán học, đó là một kỳ tích, thành tích vĩ đại của nền toán học nhân loại. Bổ đề không chỉ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển toán học mà còn liên quan đến những ngành khác, đặc biệt là vật lý lý thuyết.

Kỳ tích của GS Ngô Bảo Châu là kết quả tất yếu của sự hội tụ tố chất thông minh bẩm sinh, cùng môi trường sống, môi trường giáo dục và làm việc lý tưởng, văn minh và văn hóa. Đó là sự may mắn của số phận anh.

Nước Việt lần đầu tiên có được vinh quang trí tuệ đỉnh cao, cũng đã chiêu hiền đãi sĩ xứng đáng, khi tặng GS Châu một căn hộ cao cấp. Đó không chỉ là phần thưởng, mà còn như một sự kỳ vọng của giới khoa học và của nhân dân với GS vào việc xây dựng và phát triển nền khoa học cơ bản của đất nước trong tương lai.

Điều ấy cũng thể hiện ở ngay Quyết định mới đây của Chính phủ, mời GS. Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học Viện Toán cao cấp, hoạt động theo cơ chế đặc thù, nhằm tạo môi trường học thuật đặc biệt cho các nhà khoa học, các giảng viên ĐH thực hiện những ý tưởng, đề tài nghiên cứu toán học, có ý nghĩa khoa học, ứng dụng cao và hỗ trợ đào tạo nhân tài.

Tài năng tỏa sáng của một cá nhân, có sức tác động mạnh mẽ đến chính sách của cả một quốc gia. Đó chính là cái được lớn thứ 2 sau cái được thứ nhất – sự vinh danh trí tuệ người Việt trên trường quốc tế.

Những “đặc ân” của số phận, ở một góc độ khác, lại khiến mọi người thấy được cái đức của một người tài, khi GS Châu thẳng thắn đưa lên blog của mình, trao đổi với những ý kiến phản biện về câu chuyện “tặng nhà”, sự quan niệm đúng đắn về giá trị cống hiến với cộng đồng và hưởng thụ của cá nhân. Tài năng đỉnh cao trong khoa học và cũng đàng hoàng, minh bạch và nhân cách trong hưởng thụ.

Nhưng câu phát ngôn khá ấn tượng của GS gây ra sự tranh cãi đa chiều thú vị, không phải là cái nhà mà là cái trí: “Bám theo lề là việc của con cừu, không phải của con người tự do”. Sự thâm thúy không ở khái niệm lề vốn rất nhạy cảm, mà ở chữ người tự do. Quả thật, nếu không tự do (tư duy, tư tưởng) con người khó có thể đạt tới độ thăng hoa trong sáng tạo.

Có được người con như GS Châu là hạnh phúc tột đỉnh của bậc làm cha mẹ, và là may mắn của nước Việt. Có điều tại sao, những người như GS Châu, và nhiều tài năng trẻ tuổi nước Việt khác, lại chỉ đạt tới sự sáng tạo đỉnh cao, khi ở xứ người. Vì thế, mà bên niềm vinh dự lớn của đất Việt, không tránh khỏi một nỗi buồn sâu lắng cũng không hề nhỏ…

Đỉnh của văn hóa Việt – năm 2010, không đến từ Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội cờ giong trống mở, những đêm hoa đăng chăng đèn kết hoa, mà đến từ những cổ vật im lìm, cất tiếng nói của nghìn xưa với hôm nay. Đó là Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, ngay trước thềm Đại lễ. Sự kiện đó như một điểm tựa văn hóa phát sáng, vững chãi, thổi thêm sinh khí, hào khí, thêm hùng khí cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Di sản văn hóa vốn hàm chứa những giá trị tinh thần bất biến và đỉnh cao mà bất cứ quốc gia văn minh, văn hóa nào cũng đều mơ ước. Theo các nhà chuyên môn, Hoàng thành Thăng Long mang trong mình những giá trị nổi bật toàn cầu bởi liên tục trong hơn một thiên niên kỷ, đây là nơi giao thoa các giá trị nhân văn, nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị và nghệ thuật tạo dựng cảnh quan hết sức độc đáo.

Đó cũng là trung tâm quyền lực nối tiếp nhau của Việt Nam trong hơn 1000 năm lịch sử, là minh chứng có một không hai về sự tiến hóa của nền văn minh dân tộc Việt trong lịch sử phát triển của một nhà nước quân chủ vùng Đông Nam Á và Đông Á. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: Chiều dài lịch sử văn hóa; tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực và các tầng di tích di vật phong phú.

Với việc Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản văn hóa thế giới, các bậc tiền nhân đã làm trọn bổn phận khai sơn phá thạch, gây dựng cơ đồ cho con cháu hôm nay kế thừa và phát triển.

Thế nhưng, phải công bằng mà nói rằng, cho dù số tiền chi cho Đại lễ là 265 tỷ đồng, như thông báo của UBNDTPHN, tiết kiệm tới 89 tỷ đồng, Đại lễ 1000 nămThăng Long – Hà Nội diễn ra trong sự tranh cãi, sự phân tâm, lo ngại và hồi hộp theo dõi, cả ủng hộ lẫn hoài nghi.

Gần 10 năm chuẩn bị, mà cho đến giáp kỳ khai mạc, câu chuyện đơn giản cổng chào hay không cổng chào, kiến trúc, vật liệu cấu trúc cổng chào ra sao…cũng phức tạp đến nỗi không sao ngã ngũ, sáng tỏ. Đến nỗi cuối cùng, không cổng cũng chẳng chào(!)

May mắn thay, Đại lễ đã diễn ra tưng bừng, đúng như kịch bản những nhà tổ chức.

Cho dù còn có những lời chê bai, thì không thể phủ nhận được, không khí và những giá trị tinh thần của 1000 năm văn hiến Thăng Long- Hà Nội đã được những người dân Hà Nội, đặc biệt những người dân khắp các miền Tổ quốc, từ nông thôn đến miền núi háo hức trân trọng đón mừng, chia sẻ. Có những người dân ở miền núi, nông thôn hẻo lánh, nếu không có Đại lễ, hẳn họ không có dịp được về Hà Nội, được ngắm nhìn Thủ đô.

Một Thăng Long – Hà Nội trong thế Rồng bay. Một Hồ Gươm lung linh huyền thoại. Một Thủ đô đẹp dần lên trong mắt những người yêu…Và vạn tấm lòng người dân hướng về Thủ đô, kỳ vọng sự chuyển mình của đất thiêng cùng đất nước.

Cũng phải nói rằng, lễ hội diễn ra tưng bừng, náo nhiệt, thì sự xô bồ, sự mất vệ sinh, thiếu văn minh và văn hóa của người đi hội cũng có dịp phơi bầy. Khiến có người đã phải viết trên mặt báo: “Nên bớt phần hội, để tăng phần lễ“. Lễ ở đây là lễ nghĩa, là đạo làm người, là văn hóa ứng xử nơi công cộng…

Chưa kể đây đó, có những công trình xây dựng chào mừng gấp gáp, nên chất lượng bền vững cũng gấp gáp không kém. Đến nỗi có người đã phải đặt câu hỏi: Vì sao các bậc tiền nhân, ông cha chúng ta, văn minh lúa nước, chỉ có hai bàn tay lao động thủ công, 1000 năm sau, vẫn để lại một Di sản kiến trúc và văn hóa đỉnh cao, để thế giới phải khâm phục, nể trọng, mà chúng ta, văn minh công nghiệp, công nghệ cao hơn, vật liệu tân tiến hơn, lại chỉ để cho ra đời những công trình kiến trúc xây dựng “lở mồm, long móng”?

Và đáy của sự tối tăm, lạc nhịp…

Có đỉnh của trí tuệ mẫn tiệp, thì cũng có đáy của sự tăm tối tâm hồn. Vụ việc hiệu trưởng Sầm Đức Xương mua dâm học trò ở Hà Giang, là scandan giáo dục gây sốc nhất của năm 2010. Và cái kết “có hậu” của nó vào ngày cuối năm cũ cũng lại một lần nữa gây sốc cả xã hội.

Câu chuyện tăm tối này xoay quanh việc 2 cô học trò Nguyễn Thị Hằng (sinh năm 1991), và Nguyễn Thị Thanh Thúy (sinh năm 1992), đã tố cáo chính ông thầy hiệu trưởng của mình- Sầm Đức Xương- dụ dỗ, lôi kéo các em vào đường dây bán dâm.

Ngoài hiệu trưởng Sầm Đức Xương, còn có một loạt các cán bộ chủ chốt, cốt cán của tỉnh mua dâm các em. Đứng đầu là Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô, tiếp đó là các vị Hoàng Ngọc B; Lê Minh T. – cán bộ hải quan cửa khẩu Thanh Thủy; ông V. – công an tỉnh Hà Giang; rồi giáo viên, giám đốc các doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân…). Nghĩa là đủ mặt anh tài các ngành, các lĩnh vực của tỉnh (!)

Đau đớn nhất, trong đường dây học trò bị Sầm Đức Xương hãm hại, buộc phải bán dâm có cả những em gái sinh năm 1996 mới học tới lớp 8 (trung học cơ sở), cái tuổi có khi còn làm nũng mẹ cha. Khi chuyện bại lộ, cha mẹ các em đã phải đối mặt với những kẻ lạ mặt, những phong bì tiền triệu và lời đề nghị khiếm nhã, xin bồi thường thiệt hại. Nhưng ai có thể bồi thường thiệt hại cho niềm tin ngây thơ bị tổn thương sâu sắc, của những đứa bé gái còn chưa kịp lớn này.

Kỳ lạ, suốt một thời gian dài vào cuộc, kết luận cuối cùng mới đây nhất của cơ quan công an và VKSND tỉnh Hà Giang, là không đủ chứng cứ để chứng minh 16 cá nhân trong “danh sách đen” có hành vi mua dâm người chưa thành niên. Vì vậy, không đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng đã nêu trên.

Hay nhất, và có lẽ kết luận này mới là phát ngôn ấn tượng nhất khi cơ quan chức năng cho rằng, quan hệ tình dục của các vị đó “xuất phát từ quan hệ tình cảm chứ không phải quan hệ mua bán dâm”. Cũng lạ cho các nữ sinh Hà Giang, lứa tuổi đang phải đi học là các em toàn yêu các quan chức cốt cán cỡ tuổi cha chú? Hay cái giỏi ở đây là các cơ quan chức năng Hà Giang biết đánh tráo khái niệm tài tình?

Kỳ lạ nữa, cơ quan CSĐT CA tỉnh vẫn có công văn kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý các đối tượng trên theo quy định. Đã không có tội, làm sao các đồng chí cán bộ chủ chốt, cốt cán nêu trên lại bị xử lý? Họ có quyền phản đối kết luận vô lý này.

Còn nếu đúng như kết luận, thì quả thật, các bác “hổ phụ” thật không may, vô tình đã dưỡng các cháu “cẩu tử”, để các “cẩu tử” này dám buông lời khuyển mã về tư cách con người của các bác.

Các “cẩu tử” này, cần bị truy tố trước pháp luật vì tội vu cáo, bôi nhọ tư cách đứng đắn và danh dự cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt một tỉnh, làm cho người dân vốn đã hoài nghi, thêm một lần nữa loạn lạc lòng tin.

Nhưng liệu người dân lương thiện, nhất là các bậc cha mẹ mang nỗi đau của đứa con dại dột của mình đang bị cầm tù, hoặc bị cưỡng hiếp, họ có tin không? Họ có tin ở kết luận “sáng suốt” của cơ quan điều tra không? Hay họ tin có sự “đánh bùn sang ao”?

Nhất là những đứa bé gái chẳng may sa sẩy vào nơi nhơ nhớp, các em nghĩ thế nào về kết luận từ đen thành nhờ nhờ? Hay các em cũng vừa được sống trong chuyện cổ tích hiện đại, mà sự phù phép của phù thủy trong chuyện cổ tích xưa cũng phải cúi đầu, vái các sư phụ hậu sinh? Các em không chỉ bị mất đi sự trắng trong của người con gái, lại thêm một tổn thương làm vẩn đục tâm hồn.

Năm cũ sắp kết thúc. Nhưng câu chuyện đau lòng về sự băng hoại đạo đức xã hội này, không thể cho qua. Bởi nếu cứ kết luận “có hậu” như thế, thì nguy cơ băng hoại đạo đức xã hội vẫn tiếp tục là nhãn tiền

Và dù văn bản có kết luận rõ ràng, sự tăm tối, bệ rạc của tâm hồn, của phẩm cách, liệu có phải thuộc về những đứa trò gái ngu ngốc, khờ dại, bị ép buộc, dẫu có phần hư hỏng hay không? Nếu không, thì sự bệ rạc đó thuộc về những ai?

Vụ án này rất có thể khép lại vì “không chứng cứ”, nhưng vẫn cứ là vết nhơ khó tẩy rửa trên gương mặt các bác “hổ phụ” Hà Giang.

Đỉnh của ý chí và khát vọng dân tộc

Năm 2010, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều câu hỏi lớn, rằng dân tộc này sẽ ra sao, đứng ở đâu, hành xử thế nào trước “ống kính” của cả thế giới và khu vực. Một thế giới đầy biến động, mong manh và luôn bất ổn về kinh tế và lớn hơn, là những đổi thay trong cán cân quyền lực.

Trong thế giới đó, người hàng xóm lớn Trung Quốc luôn ở thế thượng phong, gia tăng sức mạnh và tự cho mình phải có một chỗ đứng tương xứng. Những tuyên bố và hành xử của người hàng xóm này có xu hướng quá tự tin, cứng rắn, và có lúc đụng chạm tới lợi ích thiết thân nhất của Việt Nam: Chủ quyền trên Biển Đông. Không phải một lần, người Trung Quốc nói Biển Đông nằm trong lợi ích cốt lõi của nước này, và đề nghị Mỹ chia đôi Thái Bình Dương. Đến nước biển còn đòi chia đôi…

Tham gia cuộc chơi thế nào đây, giữa những “võ biền”, để vừa tận dụng cơ hội cho phát triển, vừa không để quốc gia bị lép vế. Chủ quyền và lợi ích quốc gia phải được tôn trọng, là thách thức lớn với bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.

Thực tế ấy càng sát sườn hơn khi Việt Nam được đặt ở vị trí trung tâm của mối quan tâm của thế giới, trên tư cách nước chủ nhà của hàng loạt các hội nghị cấp cao quan trọng trong năm ASEAN, quy tụ láng giềng và nước lớn cùng có mặt, để bàn về hợp tác, an ninh và phát triển của khu vực và thế giới.

Lo lắng, nghi ngại, người Việt Nam cả trong và ngoài nước nín thở chờ đợi các động thái của chính quyền bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, tính độc lập tự chủ của Việt Nam, vượt ra khỏi những sức ép.

Và lúc này, cánh cửa năm 2010 đang dần khép lại, người dân và giới quan sát cuối cùng có thể thở phào nhẹ nhõm. Việt Nam không chỉ đóng trọn vai nước chủ nhà hiếu khách, mà còn là hạt nhân của đoàn kết, hợp tác khu vực, để các nước cùng bàn về cách ứng xử trách nhiệm với nhau và với cộng đồng. Trên hết, quan trọng nhất, Việt Nam đã tận dụng được cơ hội để đấu tranh và bảo vệ cho chính lợi ích quốc gia mình.

Như lời khẳng định Thủ tướng CP Nguyễn Tấn Dũng, “quyết bo v tng tc đt tc bin ca T quc” trong bất kì hoàn cảnh nào, Việt Nam đã có được những bước đi khôn ngoan, vừa nhu vừa cương, để giành và để giữ chỉ 2 chữ thôi, nhưng là 2 chữ cốt tủy của một quốc gia – Chủ quyền. Vì 2 chữ đó, mà tổ tiên, cha ông, và ngay cả các thế hệ hậu sinh đã không tiếc máu xương trong các cuộc trường chinh cứu nước và giữ nước.

Với tâm niệm “Bin Đông đâu phi là chuyn các nước tranh nhau mnh sân trước nhà” – câu phát ngôn ấn tượng của Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh – Việt Nam đã tranh thủ và lồng ghép được vấn đề chủ quyền Biển Đông xuyên suốt chương trình nghị sự của năm ASEAN và cả trong những cuộc gặp song phương bên lề các hội nghị. Mỗi sự kiện, mỗi hội nghị lại khẳng định thêm một Việt Nam khôn ngoan, hiểu mình, hiểu người. Cũng tức là “Hiểu” vậy.

Tiếng nói và hành động của những người đại diện Chính phủ Việt Nam: Về một Biển Đông hòa bình, về giải pháp dựa trên luật pháp quốc tế cho các khác biệt… không chỉ nhận được sự đồng thuận của người dân trong nước, mà còn được sự cộng hưởng từ các nước khu vực.

Công khai những khác biệt, minh bạch chỗ đứng của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền và cách ứng xử trong tranh chấp, thiết lập các cơ chế hợp tác và xử lý tranh chấp trong sự ràng buộc và đan xen lợi ích… Trên con đường ấy, Việt Nam đang có được nhiều bạn đường hơn, gắn kết với nhau bằng lợi ích và cả trách nhiệm quốc gia.

Đối mặt với trăm mối lo, kinh tế khó khăn, giá cả đột biến, xã hội có nhiều vấn đề, người dân Việt Nam lo hơn, nhưng cũng điềm tĩnh hơn. Quan trọng nhất, ý Đảng gặp lòng dân ở chí hướng nỗ lực khẳng định sự độc lập tự chủ dân tộc, trong cuộc đấu tranh cho chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Lịch sử có thể lặp lại. Nhưng có những lịch sử không bao giờ được phép lặp lại. Giành và giữ chủ quyền Biển Đông, là thử thách lớn, và chính ở thử thách đó, bản lĩnh, khát vọng và chí khí dân tộc Việt một lần nữa được khẳng định, mài giũa và tỏa sáng.

VietNamNet – Kỳ Duyên

Tháng Một 2, 2011 Posted by | 9. Đọc và suy ngẫm | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Gil Shwed – Giám đốc điều hành Check Point: “Hãy làm việc với những người thông minh hơn hẳn bạn!”

Để thành công trong kinh doanh, bạn buộc phải ứng phó nhanh trước mọi khó khăn, trở ngại. Với Gil Shwed, Giám đốc điều hành hãng bảo mật Check Point Software Technologies, bí quyết này đã được phát huy tới mức tối đa trong cuộc Hội thảo Networld+Interop 1994, diễn ra tại Las Vegas.

Nguồn: Forbes

Do đăng ký tham gia sự kiện vào phút cuối nên cái tên Check Point thậm chí không được đưa vào catalog của Triển lãm. Họ cũng phải dùng chung gian hàng với một hãng khác.

Shwed bước vào đại sảnh với một xấp poster quảng cáo sản phẩm đầu bảng của Check Point là “Firewall-1” trong tay. Ông lấy ra vài tờ và bắt đầu dán lên cổng chính.

Ngay lập tức, một nhân viên bảo vệ tiến đến, yêu cầu Shwed ngừng tay. “Phải mất 500 USD mới được dán quảng cáo tại đây”, người đó nói.

“Tôi trả lời : Được thôi, thế tôi trả tiền ở đâu và vào lúc nào?”. Anh ta trả lời ngay: “Ông trả cho tôi, ngay tại đây”, Shwed nhớ lại.

Đấy chính là bài học đầu tiên về “kinh doanh kiểu Las Vegas” mà Shwed học được. Không lâu sau vụ việc trên, Shwed lại được ban tổ chức triển lãm thông báo rằng: ông cần cung cấp một thông cáo báo chí để chứng minh Firewall-1 đích thực là một sản phẩm mới.

Không vấn đề gì cả, ít nhất là với Shwed. Ông dành vài tiếng đồng hồ lượn qua các gian hàng khác, đọc thông cáo báo chí của họ, sau đó ngồi xuống, lấy giấy bút và soạn ngay “tài liệu truyền thông” đầu tiên của Check Point.

“Tại thời điểm đó, chúng tôi thậm chí còn không biết thông cáo báo chí có nghĩa là gì”, Shwed “thú nhận”.

Giản dị và thầm lặng

CheckPoint hiện là một trong những hãng IT thành công nhất của Israel với doanh thu hàng năm lên tới hơn 575 triệu USD. Tuy nhiên, Shwed không phải là tuýp Giám đốc điều hành luôn xuất hiện trong chiếc limo bóng lộn, tay cầm ly sâm-panh sóng sánh ngồi ở ghế sau.

Trên thực tế, Shwed còn không mấy khi lái xe ra đường. Phương tiện đi làm quen thuộc từ nhiều năm nay của ông chính là chiếc xe điện tự hành Segway – vừa tiết kiệm xăng lại vừa thân thiện với môi trường.

Shwed là vậy, luôn sống một cách thầm lặng và giản dị, không phô trương, không xa hoa.

“Ông có lẽ là vị doanh nhân thành công nhất mà tên tuổi chẳng mấy khi xuất hiện trên báo chí hay được người ta nhắc tới”, Jerry Ungerman, Phó Chủ tịch ban lãnh đạo Check Point bình luận.

Năm nay 38 tuổi, Shwed là mẫu người chỉ tin vào các con số cụ thể. Ông thường xuyên thu thập dữ liệu về những gì đang xảy ra quanh mình, để từ đó đưa ra những kết luận hoặc phán đoán riêng.

“Ông ấy là người im hơi lặng tiếng, không bao giờ muốn thống trị cuộc trò chuyện và lấy thịt đè người. Chẳng bao giờ Shwed đập vào đầu bạn chỉ để bạn chú ý vào những điều ông sắp nói.

Shwed luôn thận trọng mỗi khi phát ngôn và chỉ nói những điều ông nắm rõ. Ông thích đào sâu mọi vấn đề”.

Điều thú vị là Shwed còn nấu ăn rất cứng tay. Ông đã nhiều lần tổ chức cuộc họp của ban giám đốc ngay tại nhà riêng, và đích thân ông đứng ra chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn, nhiều món cho các giám đốc chi nhánh trên toàn thế giới của Check Point.

“Đây là một chiến thuật quản lý cực kỳ hiệu quả”, Ungerman nói.

Nghĩa vụ hay cơ may?

Shwed bắt đầu hứng thú và say mê công nghệ từ năm 12 tuổi, khi ông được học về ngôn ngữ máy tính ở trường. Hết sức nhanh chóng, Shwed lĩnh hội tất cả ngôn ngữ lập trình đã có ở thời điểm đó.

Ông bắt đầu la cà đến Khoa Máy tính của trường Đại học Hebrew ở Jerusalem. Khi ấy, nhà trường đang cân nhắc việc sắm một máy mainframe, nhưng Shwed đã ra sức can ngăn họ.

“Anh ấy khuyên họ đừng mua mainframe mà nên sắm lấy vài chiếc máy tính, Ran Shwed – em trai của Gil nhớ lại.

“Tôi sẽ sử dụng phần mềm để kết hợp chúng thành một mạng. Nó sẽ mạnh hơn nhiều so với một máy mainframe”, Shwed thuyết phục nhà trường. 

Sau đó, Gil đã gạch đầu dòng kế hoạch của mình ra giấy rồi trình lên Ban giám hiệu. Lãnh đạo nhà trường đã bình luận rằng, nếu như tài liệu này do một thạc sĩ soạn thảo, đó có lẽ sẽ là công trình nghiên cứu Tiến sĩ xuất sắc nhất năm ấy.

Vài năm sau, Shwed đến tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc của Israel. Ông làm việc cho bộ phận tình báo chuyên về máy tính của quân đội. Chính tại nơi đây, Shwed đã tìm thấy nguồn cảm hứng để sau này phát triển nên Firewall-1.

Tiến sĩ Dorit Dor, Phó Chủ tịch sản phẩm của Check Point, là người từng làm việc với Shwed trong quân đội.

“Gil là một người nổi bật bởi khả năng tạo ra những giải pháp cụ thể, những sản phẩm khả thi và lối tư duy đầy mới mẻ, sáng tạo, không bao giờ đi theo lối mòn thông thường”.

Thuở trứng nước 

TIN LIÊN QUAN

Tháng 4/1993, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Shwed và hai người bạn Shlomo Kramer, Marius Nacht cùng khởi nghiệp ở khu ngoại ô Tel Aviv. Họ cùng nhau phát triển Firewall-1 từ nguồn vốn 250.000 USD vay được và vài chiếc máy tính đi mượn.

Thuở ban đầu của “Hewlett-Packard xứ Israel” diễn ra như trong tiểu thuyết. Bây giờ, mỗi khi thuyết trình trước các nhân viên mới, Shwed vẫn thường nhắc lại những ngày bỡ ngỡ ấy.

Gió lạnh lùa vào nhà muốn thấu xương vì căn phòng nhỏ của họ chẳng có lấy một cánh cửa sổ. Thứ duy nhất giúp họ sưởi ấm chính là nhiệt độ do máy tính toả ra.

Còn vào mùa hè, họ phải chuyển sang phòng khách, nơi có cửa sổ để dàn PC được thông thoáng. Đơn giản, điều hoà là một sự đầu tư quá xa xỉ.

Làm việc quần quật 16 tiếng mỗi ngày, ba người đã hoàn thành xong Firewall-1 vào tháng 9. “Cà phê, Coca-Cola và đường – đấy chính là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ đạo của chúng tôi”, Shwed kể lại.

Giờ đây, khi bản mẫu của Firewall-1 đã xong xuôi, nhiệm vụ kế tiếp của họ đã tiếp thị nó ra thị trường. Tháng 4/1994, Shwed bay tới Mỹ để tìm kiếm mạng lưới phân phối Firewall-1.

“Nhiệm vụ của tôi có thể tóm tắt như sau: Sang Mỹ trong 2 tuần và trở lại với một tấm séc 1 triệu USD”, Shwed mỉm cười.

Mặc dù nhiều nhà đầu tư rất thích thú với Firewall-1, song họ không tin nổi là Internet sẽ thành công về mặt thương mại. “Ban đầu, chúng tôi cũng không tưởng tượng được quy mô của thị trường đến đâu. Họ (các nhà đầu tư) khuyên chúng tôi nên quay lại sau vài ba năm nữa”.

Chẳng bao lâu, Shwed nhận ra rằng cơ hội thành công lớn nhất của Check Point là bán Firewall-1 thông qua các kênh đối tác. Thông qua đó, họ mới có thể đưa sản phẩm đến với nhiều người dùng nhất.

Con mắt xanh

Sau khi giành giải “Ấn tượng nhất Triển lãm Interop”, gian hàng của Check Point trở nên chật ních. Giới đầu tư hồ hởi đến đặt vấn đề hợp tác, và Shwed nhanh chóng ký được một thoả thuận OEM hấp dẫn với Sun Microsystem.

“Shwed có kỹ năng săn lùng các hợp đồng lớn. Việc đạt được thoả thuận với Sun chính là chìa khoá giúp Check Point trở nên nổi tiếng”, ông Charlie Federman, Giám đốc hãng đầu tư mạo hiểm Crossbar Capital cho biết.

“Gil không được đào tạo chính thống về kinh doanh, nhưng ông ý có một ý thức và tài năng bẩm sinh về việc kinh doanh”.

Có thể Shwed và các cộng sự không phải là người phát minh ra tường lửa, song họ vẫn được đánh giá là những người đầu tiên tiếp thị hiệu quả công nghệ này tới với số đông người dùng, doanh nghiệp.

Rõ ràng là Shwed có tầm nhìn và con mắt xanh khi đánh giá tiềm năng của các công nghệ mới.

Cũng theo Shwed, được làm việc cùng những người thông minh trong quân đội chính là “bài học và món quà quý giá nhất” mà ông có được khi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Shwed đã áp dụng khá nhiều bài học này vào việc quản lý Check Point.

“Bí quyết thành công thực sự, theo tôi, là bạn phải đắm mình trong một môi trường nơi có nhiều người thông minh hơn bạn. Trong hoàn cảnh ấy, bạn không chỉ cạnh tranh với họ, mà còn phải tìm cách học hỏi từ họ để bổ sung giá trị cho chính mình”.

“Nếu bạn muốn có cái nhìn độc đáo, phi chuẩn về một vấn đề nào đó – hãy áp dụng bí quyết của tôi. Và nên nhớ, khi nghĩ khác và nhìn khác về một vấn đề, đấy chính là chìa khoá để tạo nên sự khác biệt”.

Trọng CầmTổng hợp Channel Web (Theo VietNamNet)

Tháng Mười Một 26, 2008 Posted by | 9. Đọc và suy ngẫm | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Khủng hoảng tài chính Mỹ và những ảnh hưởng

Bài 1: Cuộc khủng hoảng hình thành như thế nào?

Giáo sư kinh tế Trần Văn Thọ  cùng Phó giáo sư kinh tế và quản trị kinh doanh Trần Lê Anh dành cho Thanh Niên loạt bài phân tích nguyên nhân và thực trạng cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, cũng như ảnh hưởng của nó đến kinh tế các nước châu Á, trong đó có Việt Nam.

Bên cạnh cuộc chạy đua vào Nhà Trắng đang diễn ra hết sức gay cấn, khủng hoảng tài chính là mối quan tâm hàng đầu của dân chúng Mỹ và thế giới. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hôm nay, khủng hoảng tài chính và sự trì trệ của nền kinh tế Mỹ đang và sẽ ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới. Loạt bài này phân tích nguyên nhân và thực trạng cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và bàn ảnh hưởng của nó đến kinh tế các nước châu Á, trong đó có Việt Nam.

Nguyên nhân sâu xa

Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là sự suy sụp của thị trường bất động sản. Ở Mỹ, gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp.

Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản. Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của Fed, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản). Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%.

Thứ nhì, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac.

Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities – MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.

Thứ ba, như đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa. Nó đã trở nên một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc.

Điểm đặc biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra gần như là ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ. Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết cho nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư.  Bên cạnh đó, bởi vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúng thành MBS, các ngân hàng thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay.

Bong bóng bất động sản

Với ba lý do trên, thị trường bất động sản trở nên rất nhộn nhịp, có rất nhiều người thu nhập thấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi mua nhà. Để có thể được vay, nhóm người này thường phải trả lãi suất cao hơn và thường được cho mượn dưới hình thức lãi suất điều chỉnh theo thời gian (ví dụ, nếu thỏa thuận là được vay với lãi suất 6% và điều chỉnh sau 3 năm thì đúng ba năm sau lãi suất mới sẽ được ấn định theo thời điểm đó). Tóm lại, nhóm người này thuộc vào thành phần được cho vay với loại lãi suất dưới chuẩn (subprime rate).

Bất kể khả năng trả được nợ của nhóm vay dưới chuẩn, khoản tiền cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt. Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007. Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại các khoản cho vay đầy mạo hiểm do phải đối đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn như Lehman Brothers.

Bên cạnh đó, nhu cầu mua lại MBS của các nhà đầu tư vẫn cao bởi vì cho tới trước năm 2006 thì thị trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu nổ bong bóng. Hơn nữa, họ cũng phần nào được trấn an khi vẫn có thể mua thong thả các hợp đồng bảo hiểm CDS từ các công ty bảo hiểm và đầu tư khác. Việc này dẫn đến các công ty bán bảo hiểm càng mạnh tay hơn trong việc bán CDS ra thị trường, bất chấp khả năng bảo đảm của mình.

Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc lên giá bất động sản liên tục. Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 (năm bắt đầu cắt mạnh lãi suất) đến 2005. Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên. Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời. Do đó, một bong bóng đã thành hình trong thị trường bất động sản. (Còn tiếp)

Xin nói sơ qua về sự hình thành và mua bán MBS. Tuy công cụ đầu tư phát sinh này rất phức tạp và đa dạng nhưng có thể đề cập đến một thể loại đơn giản nhất như sau. Fannie Mae, hoặc là một công ty tài chính khác như Lehman Brothers, bỏ tiền ra mua lại các khoản cho vay thế chấp từ các ngân hàng thương mại, tập trung chúng thành từng loại khác nhau, rồi phát hành MBS để bán lại cho các nhà đầu tư.

Ví dụ, Fannie Mae mua 1.000 khoản vay thế chấp với các đặc điểm giống nhau với gốc là 200.000 USD cho mỗi khoản vay. Khi tập trung lại thì tổng trị giá các khoản vay này sẽ là 200.000.000 USD. Fannie Mae có thể biến khoản này thành 100.000 MBS, trị giá 2.000 USD một phần và bán lại cho các nhà đầu tư. Nếu nhà đầu tư A mua 10 MBS thì sẽ trả 20.000 USD.

Sau khi mua các MBS thì các nhà đầu tư sẽ nhận lại khoản tiền vừa lãi vừa gốc được chuyển đến hằng tháng từ các người vay tiền (thông qua một công ty dịch vụ trung gian) trong một khoản thời gian nhất định nào đó.

Tóm lại, nếu không có gì trục trặc thì sau khi hết khoảng thời gian nhận lại tiền, thì tổng số tiền mà nhà đầu tư nhận được sẽ là trên 20.000 USD (tiền vốn gốc bỏ ra đầu tư cộng với tiền lãi hằng năm). Các MBS dựa trên các khoản vay có tính chất rủi ro cao hơn thì tất nhiên sẽ đem lại lời nhiều hơn cho các nhà đầu tư.

Và cũng vì có sự khác nhau về rủi ro của các loại MBS cho nên các công ty bảo hiểm và thẩm định rủi ro, chẳng hạn như AIG, cũng nhảy vào để bán bảo hiểm cho các nhà đầu tư MBS. Các bảo hiểm này được gọi là credit default swap (CDS), với mục đích bảo đảm cho các nhà đầu tư MBS là trong trường hợp những người vay tiền mua nhà không trả được nợ và làm cho MBS mất giá thì sẽ được bồi thường.

Sự việc này đã tạo nên một loạt chân rết mới, kéo thêm các thành phần khác nhảy vào cuộc chơi, bởi vì bán bảo hiểm loại này trong lúc thị trường bất động sản đang phất lên và ít người vỡ nợ thì rất có lời.

Bài 2: Giải cứu

Sự suy sụp dây chuyền bất động sản – tài chính

Do lo lắng về diễn biến lạm phát, Cục Dự trữ liên bang (DTLB) bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn đến việc thị trường bất động sản (BĐS) bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006. 

Trong khi vào giữa năm 2003 lãi suất căn bản của Fed chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đã tăng lên đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà lên cao hơn nhiều nữa.  Tình hình lãi suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà giảm lại. Giá nhà bắt đầu trượt dốc vì cung vượt cầu. Nhiều người mua nhà giá cao trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoản nợ mà mình đang vay. Bên cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo lãi suất mới hiện hành khá cao. Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc. Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân hàng trưng thu lại.

Việc ngày càng nhiều người không có khả năng trả nợ ngân hàng mỗi tháng dẫn đến việc trị giá của các MBS bị tụt dốc. Như đã nói lúc đầu, có rất nhiều nhà đầu tư ở Phố Wall đã mua MBS. Do đó, khi MBS mất giá thì đồng nghĩa với việc tài sản của họ cũng bị mất theo, dẫn đến việc thiếu hụt vốn.  Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm MBS, chẳng hạn như AIG, cũng lâm vào cảnh khốn đốn khi phải đứng ra bảo lãnh ngày càng nhiều các khoản vay xấu. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại hoặc các công ty cho vay thế chấp còn giữ lại phần lớn các khoản vay cho mình (thay vì bán lại cho Fannie Mae chẳng hạn) cũng nhìn dòng vốn và tín dụng của mình bị cạn kiệt khi phải đương đầu với tỷ lệ mất khả năng trả nợ ngày càng cao của người vay thuộc nhóm dưới chuẩn. 

Tóm lại, bởi vì có nhiều mối liên hệ chằng chịt giữa người vay và nhiều thành phần cho vay trực tiếp cũng như gián tiếp, việc tụt dốc của thị trường BĐS đã ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tài chính nói chung. Mức độ lan tỏa và nghiêm trọng của vấn đề là do sự mua đi bán lại các công cụ tài chính phát sinh (các MBS và CDS) đã kéo quá nhiều các thành phần đầu tư, trong cũng như ngoài nước, vào cuộc chơi trong khi luật lệ của sân chơi thì vẫn thiếu sót hoặc không rõ ràng.

Vấn đề mấu chốt hiện giờ là sự khan hiếm tín dụng đang hoành hành. Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi các nhà đầu tư bắt đầu bán tháo bán đổ các công cụ đầu tư mạo hiểm để tìm cách bảo tồn vốn. Sự việc này dẫn đến niềm tin vào thị trường bị tụt dốc và “suy nghĩ và hành động bầy đàn” trở nên phổ biến, bắt buộc chính phủ phải xen vào thị trường một cách rộng lớn và táo bạo để khôi phục niềm tin.

Chính phủ Mỹ ra tay

Trước sự tụt dốc không phanh của thị trường BĐS và sự bất ổn của thị trường tài chính, Chính phủ Hoa Kỳ bắt buộc phải ra tay cứu nguy để ngăn chặn khủng hoảng kinh tế ở phương diện rộng lớn. Chính phủ Mỹ đã lần lượt cứu nguy cho bốn công ty khổng lồ có liên quan trực tiếp đến cuộc khủng hoảng thị trường dây chuyền BĐS – tài chính.  Thứ nhất, vào tháng 3 năm nay, để tránh cho Bear Stearns bị phá sản do đã đầu tư quá nhiều vào các MBS xấu, Cục DTLB đã đứng ra bảo lãnh 30 tỉ USD các khoản nợ phải trả của Bear để tạo điều kiện cho JP Morgan Chase mua lại Bear Stearns. Thứ nhì, vào đầu tháng 9, Bộ Tài chính thông báo một gói cứu nguy khẩn lên đến 200 tỉ USD để giúp Fannie Mae và Freddi Mac (2 công ty đã đổ vốn rất nhiều vào thị trường BĐS như đã nói lúc đầu) tiếp tục hoạt động nhằm cố gắng bình ổn thị trường.

Tiếp đó, vào giữa tháng 9, để ngăn chặn khủng hoảng tràn lan, Cục DTLB lại tiếp tục khẩn cấp cứu nguy cho AIG (công ty bảo hiểm tư nhân lớn nhất thế giới) bằng cách cho vay 85 tỉ USD để giúp AIG thoát khỏi phá sản.  Như đã đề cập ở phần trước, AIG đã bán quá nhiều bảo hiểm CDS cho các nhà đầu tư MBS cho nên khi thị trường BĐS bị vỡ nợ, AIG buộc phải chi ra rất nhiều để trả cho các hợp đồng bảo hiểm. Do AIG có quy mô hoạt động toàn cầu (bán bảo hiểm đủ loại trên 100 nước trên thế giới) cho nên nếu để nó bị phá sản thì sẽ ảnh hưởng xấu tràn lan khắp nơi. Do đó, động thái cứu nguy cho AIG được coi như là bắt buộc để ngăn chặn đà lan tỏa của cuộc khủng hoảng.

Ba động thái cứu nguy trên cho thấy chính phủ đã xen vào thị trường một cách hết sức mạnh tay. Tuy nhiên, vì tính chất phức tạp và các quan hệ đan xen của các nguyên nhân gây ra khủng hoảng, sự phục hồi niềm tin trong thị trường đã trở nên vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, việc chính phủ không cứu nguy để cho ngân hàng đầu tư khổng lồ Lehman Brothers bị phá sản (vào giữa tháng 9) cũng làm cho các nhà đầu tư lo sợ với suy nghĩ là công ty của mình cũng sẽ bị số phận tương tự. Việc tiếp tục mất niềm tin đã thể hiện qua việc thị trường chứng khoán liên tục bị tụt dốc khi các nhà đầu tư tranh nhau bán cổ phần để rút tiền ra khỏi thị trường nhằm tìm những bãi đáp an toàn hơn, chẳng hạn như trái phiếu ngắn hạn của chính phủ (T-bill).

Trước sự hoang mang cao độ của thị trường tài chính và ảnh hưởng xấu của nó lên nền kinh tế nói chung, Chính phủ Mỹ bắt buộc phải ban hành Đạo luật Bình ổn kinh tế khẩn cấp vào đầu tháng này (ngày 3 tháng 10). Đạo luật này cho phép Bộ Tài chính sử dụng lên đến 700 tỉ USD để mua lại những cổ phần và tài sản có vấn đề của các công ty tài chính, đặc biệt là các MBS xấu. Mục đích chính là giảm bớt sự mất mát của các công ty này và trút vốn vào hệ thống tài chính để khôi phục niềm tin và đẩy lui cuộc khủng hoảng tín dụng có nguy cơ đẩy nền kinh tế lún sâu vào trì trệ.

Hiện tại, hiệu quả của đạo luật này như thế nào thì sẽ phải chờ thời gian trả lời, bởi vì việc mua lại các tài sản hoặc cổ phần của các công ty tài chính cũng cần phải có thời gian để nhận diện và định giá. Niềm tin vào thị trường hiện vẫn đang xuống dốc trầm trọng do người ta còn chưa biết rõ là sự mất mát của các công ty tài chính lớn đến chừng nào. Câu hỏi đưa ra là liệu 700 tỉ USD có đủ để cứu hết không. Thị trường chứng khoán Mỹ vẫn liên tục tụt dốc sau khi đạo luật được ban hành. Cho tới ngày 9.10, chỉ số Dow Jones tụt 7 phiên liên tiếp. Khoảng 700 tỉ USD đã bốc hơi trong khoảng thời gian này. Kể từ thời điểm này năm ngoái đến bây giờ, thị trường chứng khoán Mỹ đã mất 8.000 tỉ USD.

Tuy nhiên, có một điều rõ ràng là đa số dân Mỹ rất bất bình trước chuyện chính phủ dùng tiền thuế của dân để cứu nguy cho các nhà đầu tư mạo hiểm và hám lợi. Một điều chắc chắn sẽ xảy ra là rồi đây môi trường đầu tư các công cụ đầu tư phát sinh sẽ được tăng cường kiểm soát. Cả hai ứng cử viên tổng thống hiện tại, mặc dù có lập trường khác nhau về mức độ xen vào thị trường của chính phủ, đều công nhận rằng Phố Wall cần phải được giám sát chặt chẽ hơn để tránh lặp lại trường hợp chính phủ phải dùng tiền thuế của dân để cứu nguy cho các nhà đầu tư.  (Còn tiếp)

Bài 3: Kinh tế Mỹ sẽ đi về đâu?

Với các biện pháp giải cứu khủng hoảng tài chính như đã nêu ra trong phần trước, liệu kinh tế Mỹ có thể nhanh chóng khắc phục những khó khăn để trở lại con đường tăng trưởng ổn định? Vấn đề này cần đưa ra hai tầm nhìn: ngắn hạn và dài hạn.

Ngắn hạn

Trong ngắn hạn, từ nay đến cuối năm 2009, chắc chắn kinh tế Mỹ không tránh khỏi suy thoái trầm trọng. Dù được chính phủ bơm tiền vào các ngân hàng thương mại và mua các chứng khoán chỉ còn ít giá trị, hệ thống tín dụng không thể hoạt động bình thường lại ngay.

Hơn nữa, các nhà đầu tư vẫn còn hoang mang cao độ do chưa biết rõ hết mức độ nghiêm trọng của sự mất mát.  Họ nghĩ rằng tin xấu rồi sẽ lần lần hiện ra nữa. Do đó, thái độ hiện tại và trong tương lai gần sẽ là tìm giải pháp đầu tư an toàn và dò xét các phản ứng của thị trường cũng như sự thực thi các biện pháp cứu nguy của chính phủ.

Tâm lý sợ hãi hiện đang bao trùm lĩnh vực tài chính. Các ngân hàng rất dè chừng trong việc cho vay, làm ảnh hưởng đến sản xuất của doanh nghiệp và đến khả năng chi tiêu của dân chúng đối với các hàng hóa lâu bền như xe hơi. Mặt khác, cổ phiếu mất giá và giá bất động sản giảm mạnh, giá trị danh nghĩa của tài sản người dân giảm mạnh theo và do đó tiêu dùng trong dân đang và sẽ giảm mạnh. Sự đình trệ cả hai mặt cung và cầu sẽ làm kinh tế Mỹ suy thoái nặng.

Vì các yếu tố đó, các dự báo về kinh tế Mỹ đều cho thấy những con số khá bi quan. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), năm 2008 kinh tế Mỹ phát triển 1,6% và năm 2009 gần như không tăng trưởng (0,1%). Nếu xét từng quý thì tình huống trước mắt trầm trọng hơn.

Theo thăm dò của Wall Street Journal (9.10), đa số các nhà kinh tế đều bi quan cho rằng Mỹ đang ở giữa đường hầm, kinh tế trong quý 3 và quý 4 của năm 2008 và quý 1 của năm 2009 đều tăng trưởng ở số âm. GDP liên tục giảm trong 3 quý là hiện tượng chưa có trong nửa thế kỷ qua. Mặt khác, nếu dự báo của IMF có cơ sở thì từ nửa sau năm 2009 tình huống bắt đầu được cải thiện. Tuy nhiên, nhìn chung không khí hiện nay bi quan hơn dự báo của IMF.

Dài hạn

Nhìn vấn đề trong tương lai xa hơn, hiện nay có nhiều đánh giá khác nhau.

Theo những ý kiến bi quan, tình hình của Mỹ hiện nay giống với cuộc đại khủng hoảng trong thập niên 1930 hoặc giống với thời kỳ suy thoái của Nhật trong thập niên 1990. Đại khủng hoảng thập niên 1930 làm cho Mỹ mất 10 năm mới đưa mức sản xuất trở lại thời trước khủng hoảng. Nhật cũng mất hơn 10 năm mới ổn định được hệ thống tín dụng và khôi phục nền kinh tế. Từ các so sánh này, nhiều người lo là sự suy thoái hiện nay của kinh tế Mỹ có thể kéo dài tới 10 năm.

Tuy nhiên, so với đại khủng hoảng thập niên 1930, các đối sách của Mỹ hiện nay không đơn độc mà có sự hợp tác của những nền kinh tế lớn vì sự tùy thuộc vào nhau, nhất là thị trường tài chính đã lên cao độ, Mỹ sụp đổ sẽ kéo theo sự bất ổn ở các nền kinh tế khác. Hiện nay việc hợp tác đã bắt đầu trong chính sách lãi suất.

Ngày 9.10 vừa qua, cùng với Mỹ, ngân hàng trung ương của các nước lớn giảm lãi suất ngắn hạn hàng loạt (Mỹ còn 1,5%, khối Euro 3,75%…).  Riêng Nhật lãi suất đã ở mức quá thấp (0,5%) nên kỳ này không thay đổi. Nỗ lực này có mục đích giảm phí tổn điều động vốn của ngân hàng, giảm phí tổn vay vốn của doanh nghiệp và người tiêu thụ nhằm kích thích sản xuất và chi tiêu. Trong những ngày tới, nếu cần, các nước sẽ can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối để tránh sự biến động đột ngột trong tỷ giá các đồng tiền chính.

Thêm vào đó, khác với thập niên 1930, hồi đó Mỹ và nhiều nước khác đều gặp khó khăn ở mức độ gần như nhau, hiện nay kinh tế thế giới ngoài Mỹ phát triển khá mạnh. Năm 2007, tăng trưởng ở Mỹ chỉ có 2% trong khi thế giới là 5%. Theo dự báo của IMF, năm 2008 Mỹ tăng trưởng 1,6% trong khi thế giới 3,9%.

Cùng với cơ chế hợp tác đã có của các nước lớn, sự năng động của kinh tế thế giới là điều kiện về thị trường giúp kinh tế Mỹ mau hồi phục. Hiện nay tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ độ 6%, có thể sẽ tăng lên trong năm 2009 nhưng, với các lý do vừa nói, không thể có chuyện tăng lên tới mức 25% của thập niên 1930.

Một điểm nữa là chính phủ ngày nay đóng vai trò quan trọng hơn và hiệu quả hơn vì có các cơ chế làm dịu tác động của khủng hoảng so với thập niên 1930. Thời xưa chưa có Cục Dự trữ Liên bang và cơ quan lo về chế độ bảo hiểm tiền gửãi tiết kiệm (FDIC). Để giảm sự lo âu cho những người gửi tiết kiệm ở ngân hàng với số tiền lớn, chính phủ đã nâng mức bảo hiểm số tiền gửãi từ 100.000 USD lên 250.000 USD trong đầu tháng 10 này. 

So với Nhật vào thập niên 1990, tình hình của Mỹ hiện nay cũng khác ít nhất ở hai điểm. Thứ nhất, thị trường bất động sản của Nhật cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 tăng nhanh đến mức quá cao một cách bất thường, hình thành nền kinh tế bong bóng quá lớn nên khi nổ tác động rất mạnh đến hoạt  động sản xuất và tiêu thụ.

Tình hình của Mỹ hiện nay phức tạp hơn do các công cụ đầu tư tinh vi, khó kiểm soát, nhưng riêng về giá bất động sản, sự biến động tăng giảm không lớn lắm so với Nhật Bản 15 năm trước. Thứ hai, trong thập niên 1990 Nhật bị giảm phát (deflation) nặng nên lãi suất danh nghĩa giảm đến gần số không nhưng lãi suất thực vẫn cao. Hiện nay Mỹ lạm phát vài phần trăm nên dễ dùng chính sách tiền tệ kích thích sản xuất hơn Nhật hồi thập niên 1990.

Các yếu tố làm cho kinh tế Nhật hồi phục từ năm 2003 cũng cho thấy những gợi ý cho khả năng hồi phục của kinh tế Mỹ hiện nay. Một mặt Nhật can thiệp tích cực vào thị trường ngoại hối giữ cho đồng yen ở mức thấp, nhờ đó đẩy mạnh xuất khẩu. Mặt khác, chính phủ bơm tiền vào ngân hàng, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho vay.

Ngoài ra, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng cao suốt cả một giai đoạn dài góp phần tăng ngoại nhu để kinh tế Nhật chóng hồi phục. Cả 3 yếu tố này ngày nay cũng có thể thấy trong trường hợp của kinh tế Mỹ. Do đó, vấn đề nợ xấu của Mỹ có lẽ không kéo dài như Nhật 15 năm trước. Có thể từ cuối năm 2009 kinh tế Mỹ có triển vọng bước vào quá trình hồi phục.

Yếu tố chính trị

Tuy nhiên, ngoài những yếu tố kinh tế ở trên, các yếu tố chính trị cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phục hồi của nền kinh tế Mỹ. Chỉ trong vòng một tháng nữa thì người dân Hoa Kỳ sẽ biết tên chính xác của vị tổng thống mới. Với sự mất tín nhiệm quá cao của người dân đối với Tổng thống Bush hiện nay, bất cứ sự thay đổi nào, bất kể đó là McCain hay là Obama, cũng có thể được xem như là một sự cải thiện. Thị trường sẽ đón nhận tín hiệu này như một luồng sinh khí mới, tăng khả năng đối đầu với những khó khăn hiện tại.

Quan trọng hơn, với sự tích cực lên án của cả hai ứng cử viên tổng thống về những bất cập trong các hoạt động đầu tư của phố Wall, sẽ có những thay đổi rộng lớn về luật lệ giám sát lĩnh vực tài chính nói chung một khi vị tổng thống mới chính thức bước vào Nhà Trắng. Tùy theo khả năng hợp tác với Quốc hội của vị tổng thống mới này mà mức độ nhanh chậm trong việc cải thiện sân chơi tài chính sẽ được tiến hành.

Điều đáng lạc quan ở đây là một khi chính quyền mới lãnh nhiệm sở thì thường sẽ có rất nhiều sáng tạo về chính sách và dễ có được một sự đồng thuận hơn. Hơn bao giờ hết, những sáng tạo về chính sách giải quyết khủng hoảng sẽ là đặc biệt cần thiết trong bối cảnh kinh tế rối ren hiện nay của Hoa Kỳ.

 Bài 4:  Ảnh hưởng đến kinh tế Á châu và Việt Nam

Ảnh hưởng đến kinh tế Á châu

Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và hoạt động của các công ty đa quốc gia Mỹ lan rộng đến tất cả các châu lục nên cuộc khủng hoảng ở Mỹ chắc chắn sẽ tác động đến kinh tế thế giới, kể cả Á châu.

Tuy nhiên tác động này có lẽ không quá trầm trọng như cảm nhận của nhiều người. Hơn nữa, từ cái nhìn trung và dài hạn về kinh tế Mỹ tương đối lạc quan như đã nói thì nhiều nước Á châu cũng chỉ bị ảnh hưởng trong thời gian 1-2 năm trước mắt. Mặt khác, với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn, nhiều nước Á châu sẽ có tiếng nói mạnh hơn trong quan hệ với Mỹ và trong các diễn đàn quốc tế bàn về ổn định kinh tế thế giới.

Trước hết, Á châu chịu ảnh hưởng lớn nhất có lẽ là thị trường chứng khoán. Chứng khoán ở Mỹ tụt dốc gây nên tâm lý bất an giữa những nhà đầu tư tại Á châu và thị trường chứng khoán của những nước này cũng suy sụp theo. Tài sản của các cá nhân đầu tư chứng khoán bị giảm sút làm giảm khả năng chi tiêu trong dân kéo theo sự đình đốn trong sản xuất. Tuy nhiên hiệu quả này chỉ mạnh trong các nền kinh tế tiên tiến trong đó thị trường chứng khoán đã phát triển đáng kể như Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan.

Một số ngân hàng, một số các công ty chứng khoán, bảo hiểm ở các nước Á châu đang nắm giữ những chứng khoán do Fannie Mae và Freddie Mac phát hành nên phải chịu tổn thất trong cuộc khủng hoảng ở Mỹ. AIG cũng là công ty hoạt động toàn cầu, có mặt tại các thị trường lớn ở Á châu nên cũng gây những ảnh hưởng tương tự ở nhiều mức độ khác nhau đến các ngân hàng hoặc công ty tài chính châu Á. Không có tư liệu cụ thể để có thể đánh giá chính xác về ảnh hưởng này. Nhưng ảnh hưởng này chỉ giới hạn trong một số công ty, một số ngân hàng chứ không lớn đến nỗi ảnh hưởng tới cả nền kinh tế các nước Á châu, nhất là những nước chưa phát triển ở trình độ cao.

Về thị trường xuất khẩu của các nước Á châu, do Mỹ còn chiếm vị trí khá cao nên xuất khẩu và sản xuất của những nước này sẽ bị đình trệ, tuy rằng những nền kinh tế lớn ở Á châu như Nhật và Trung Quốc trong những năm gần đây đã giảm đáng kể độ tùy thuộc vào thị trường Mỹ. Chẳng hạn vào năm 2002 thị trường Mỹ chiếm tới 27% xuất khẩu của Nhật nhưng đến năm 2007 chỉ còn độ 20%. Hiện nay Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nhật, không phải Mỹ. Đối với Trung Quốc từ năm 2007 thị trường xuất khẩu lớn nhất cũng đã chuyển từ Mỹ sang EU. Dĩ nhiên tuy đã giảm, vị trí của Mỹ vẫn còn cao và thị trường ở nước thứ ba (như Âu châu) bị ảnh hưởng của khủng hoảng ở Mỹ thì xuất khẩu từ Á châu cũng gián tiếp bị ảnh hưởng.

Trong tình hình đó, nội nhu sẽ đóng vai trò quan trọng hơn. Mỹ cũng sẽ yêu cầu các nền kinh tế lớn ở Á châu như Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc chuyển hướng chính sách tăng nội nhu. Đồng tiền các nước này, nhất là đồng nhân dân tệ sẽ lên giá.

Nội nhu có lẽ không tăng đủ để bù vào chỗ giảm sút trong xuất khẩu nên tăng trưởng kinh tế tại Á châu sẽ giảm tốc. Tuy nhiên không thể có chuyện suy sụp như ở Mỹ.

Nhìn ở một mặt khác, cuộc khủng hoảng ở Mỹ sẽ làm tăng tiếng nói và vị trí của các nước Á châu trong quan hệ với Mỹ và trong các nỗ lực quốc tế nhằm ổn định thị trường tiền tệ và kinh tế thế giới. Với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn (Trung Quốc là 1.540 tỉ USD, đứng đầu thế giới; Nhật xếp vị trí thứ hai với 954 tỉ USD, Hàn Quốc 240 tỉ), các nước Á châu này sẽ có thể dễ dàng mua nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ, tham gia sở hữu nhiều công ty tài chính của Mỹ và tích cực xuất vốn cho các dự án giúp những nước gặp khó khăn về ngoại tệ. Hiện nay Nhật đã bắt đầu cho thấy vai trò đó. Tập đoàn tài chính Mitsubishi UFG của Nhật đã mua 21% cổ phiếu của Morgan Stanley, Tập đoàn Nomura đã mua một số cổ phiếu của các cơ sở hoạt động của Lehman Brothers tại châu Á, châu Âu và Trung Đông. Bộ trưởng Tài chính Nhật vừa đưa đề án yêu cầu IMF đứng ra lập quỹ hỗ trợ các nền kinh tế gặp khó khăn và hứa sẽ đóng góp tích cực.

Ảnh hưởng đối với Việt Nam

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng về mặt tiền tệ đối với Việt Nam có lẽ không đáng kể. Những loại chứng khoán mà hiện nay đang có vấn đề của những công ty chứng khoán và bảo hiểm của Mỹ chưa bán ở Việt Nam. Hệ thống tiền tệ và thị trường vốn, thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa lành mạnh, dễ tổn thương, dễ lâm vào bất ổn chủ yếu là do các yếu tố trong nội bộ Việt Nam như thiếu tính công khai, thiếu minh bạch, dân chúng khó tiếp cận, tồn tại giao dịch nội gián…, chứ không liên quan nhiều đến cuộc khủng hoảng ở Mỹ.

Đầu tư trực tiếp (FDI) ở Việt Nam có lẽ cũng không bị ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ. Các nhà đầu tư chính ở Việt Nam là Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan… Ngay cả những công ty chế tạo của Mỹ nếu có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam cũng sẽ không vì cuộc khủng hoảng này mà đình hoãn kế hoạch đó. Kinh nghiệm của thập niên 1990 cho thấy kinh tế Nhật suy thoái hầu như không ảnh hưởng gì đến FDI của họ ở Trung Quốc và  Việt Nam. Kinh nghiệm của Intel tại Việt Nam cũng cho thấy công ty này chậm triển khai kế hoạch đầu tư ở nước ta chủ yếu vì không bảo đảm được nguồn nhân lực có trình độ cao cần thiết. Thành ra, để tiếp tục tiếp nhận FDI từ Nhật, Mỹ và nhiều nước khác, Việt Nam cần hoàn thiện các điều kiện về nguồn nhân lực, cơ sở hậu cần, xây dựng công nghiệp phụ trợ…

Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nhất từ cuộc suy thoái của Mỹ có lẽ là ở lĩnh vực xuất khẩu. Hiện nay Mỹ chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng phần lớn sản phẩm của ta xuất khẩu sang Mỹ là hàng may mặc, giày dép và hàng thủy sản nên trước mắt chỉ những mặt hàng này gặp khó khăn. Dù Mỹ không gặp khủng hoảng, việc tập trung xuất khẩu một số mặt hàng nhất định sang Mỹ dễ gây va chạm với các nhà sản xuất bản xứ. Vấn đề của Việt Nam là phải nỗ lực chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng cao cấp hơn, đa dạng hơn. Trong thời gian truớc mắt, Việt Nam nên củng cố sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp để khi kinh tế Mỹ hồi phục sẽ triển khai chiến lược xuất khẩu với nhiều mặt hàng đa dạng hơn.

Việt Nam cũng cần rút ra các bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Nếu để hệ thống tiền tệ phát triển tự phát với sự xuất hiện các công cụ tài chính càng tinh vi, phức tạp thì càng khó quản lý. Thị trường chứng khoán phải được phát triển từng bước và phải có đủ cơ chế công khai thông tin và việc thực thi các luật lệ phải có tính minh bạch. Phát triển thị trường tài chính một cách vội vàng sẽ dễ phát sinh khủng hoảng. Đối với Việt Nam hiện nay, mục tiêu tối thượng của hệ thống tiền tệ là phải làm sao góp phần tăng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu, huy động vốn trong dân và giúp những doanh nghiệp tiếp cận với vốn. Thêm vào đó, hệ thống tiền tệ phải hoàn toàn nằm trong khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước. Để được như vậy, phải ưu tiên củng cố hệ thống ngân hàng, làm cho ngân hàng trở thành nơi tin cậy và gần gũi với dân chúng là những người gửi tiết kiệm, là những nhà đầu tư. Phải tạo cơ chế để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được với vốn thì mới có thể xúc tiến đầu tư phát triển, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Trần Văn Thọ – Trần Lê Anh (*)

(*) Tác giả Trần Văn Thọ: Giáo sư Kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo (Nhật Bản), hiện đang nghiên cứu ở Đại học Harvard, Cambridge.
Tác giả Trần Lê Anh: Phó giáo sư Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Lasell, Boston (Mỹ

Theo Thanh niên online

Tháng Mười 19, 2008 Posted by | 9. Đọc và suy ngẫm | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều gì khiến trẻ em Phần Lan xuất sắc đến thế?

Học sinh Phần Lan đạt thứ hạng cao trong cuộc điều tra quốc tế. Và các nhà giáo dục của Mỹ đang cố gắng tìm ra lý do đằng sau thành tích tuyệt vời này.

Các học sinh trung học ở Phần Lan mỗi tối mất không tới nửa giờ để làm bài tập về nhà. Ở đất nước này học sinh không mặc đồng phục, không bị phân biệt sang hèn, và cũng không có những nghi thức đọc diễn văn từ biệt khi rời trường trung học. Cũng không có chuông điểm danh và không hề có lớp chuyên, lớp chọn. Hầu như chẳng có những kỳ kiểm tra, các phụ huynh thì không phải vật vã về trường lớp và trẻ em thì chỉ đi học khi bước sang bảy tuổi.

Thế mà về xếp hạng, học sinh trung học Phần Lan luôn đứng đầu thế giới. Học sinh 15 tuổi ở Phần Lan thi chung với 57 quốc gia khác đã giành được điểm số cao nhất. Học sinh của Mỹ xếp ở hạng trung bình của thế giới ngay cả khi các nhà giáo dục Mỹ đã nhồi nhét cho học sinh của mình hàng chồng bài tập về nhà, áp đặt hàng lô những tiêu chuẩn và luật lệ. Học sinh Phần Lan, cũng giống các bạn Mỹ, cũng bỏ ra nhiều thời gian để lướt nét. Chúng cũng nhuộm tóc, cũng sống phóng túng, thích nghe “rap” và “heavy metal”. Thế nhưng tới lớp 9, chúng đã vượt xa về kiến thức toán, khoa học và đọc hiểu, và về sau, giống như bất những người dân Phần Lan khác, luôn trở thành những công dân làm việc hiệu quả nhất thế giới.

Giáo dục Phần Lan đã trở thành tâm điểm chú ý của thế giới sau ba lần liên tiếp đứng đầu kỳ điều tra của tổ chức OECD gồm 30 quốc gia phát triển của thế giới. Kỳ điều tra gần đây nhất, đặt trọng tâm vào khoa học, với kết quả được công bố cuối năm ngoái, học sinh Phần Lan đứng đầu về khoa học và đứng ở tốp đầu về toán và đọc hiểu. Theo như ông Andreas Schleicher, giám đốc phụ trách chương trình điều tra PISA cho biết thì Phần Lan đứng đầu bảng tổng kết thành tích của cả ba năm liên tiếp điều tra PISA. Mỹ xếp trung bình trong bảng xếp hạng này về toán và khoa học. Riêng đọc hiểu thì không ổn định. Khoảng 400.000 học sinh ở khắp thế giới tham gia kỳ thi trả lời những câu hỏi trắc nghiệm và viết tự luận để kiểm tra tư duy suy luận và ứng dụng kiến thức. Ví dụ như một kiểu câu hỏi rất hay gặp là: Bạn hãy thảo luận về giá trị thẩm mỹ của của nghệ thuật grafito?

Năng lực học tập khác thường của học sinh Phần Lan trong những năm gần đây đã thu hút các nhà giáo dục từ hơn 65 quốc gia tới thăm Phần Lan chỉ để tìm hiểu những bí mật đằng sau những kỳ tích này, kể cả các quan chức của Bộ giáo dục Mỹ. Triết lý họ tìm thấy thật đơn giản nhưng không hề dễ thực hiện: đó là các giáo viên cần được đào tạo chuẩn mực và các học sinh học tập có trách nhiệm. Khi còn nhỏ, trẻ em hoạt động nhiều nhưng không cần phải có người lớn luôn kè kè ở bên. Và các giáo viên tạo ra các bài giảng phù hợp với học sinh ở từng độ tuổi. “Chúng tôi chẳng có dầu lửa, cũng chẳng có nhiều tài nguyên nào đáng giá cả. Kiến thức là thứ duy nhất mà người Phần Lan có”, bà Hannele Frantsi, hiệu trưởng của một nhà trường nói.

Thành tích cao của học sinh 15 tuổi của Phần Lan theo điều tra PISA của các nước OECD đã khiến các chuyên gia giáo dục từ các nước lũ lượt đổ về Helsinki để tìm hiểu về triết lý giáo dục đặc biệt, triết lý đào tạo giáo viên và hệ thống giáo dục của Phần Lan.Trước năm 2001 khi kết quả PISA lần đầu được công bố, Phần Lan đã trở thành địa chỉ có tiếng cho các chuyên gia giáo dục. Kể từ đó trở đi thì số lượng chuyên gia giáo dục đổ về đây đã tăng gấp nhiều lần.

Chỉ riêng con số thống kê của Hội đồng giáo dục quốc gia và Bộ giáo dục thì kể từ 2004 hàng năm đã có khoảng 1200 chuyên gia, đến từ 65 quốc gia vào Phần Lan tìm hiểu hệ thống giáo dục nước này. Vào thời gian đầu, Đức là nước cử nhiều chuyên gia sang Phần Lan nhất nhưng sau này số lượng chuyên gia từ các nước châu Á, nhất là Nhật bản tăng mạnh. Đoàn đến từ các nước Châu Á  – thường gồm giáo viên, hiệu trưởng, chuyên gia giáo dục, công chức và nhà báo – tới để tìm hiểu về hệ thống giáo dục khi muốn có những cải cách hệ thống giáo dục trong nước.

Thường thì một đoàn chuyên gia gồm khoảng từ 15-20 người, nhưng có những đoàn đông hơn gấp nhiều lần. Đã có 3 hội thảo quốc tế về giáo dục Phần Lan được tổ chức vào năm 2004 và 2005 và hội thảo lần thứ tư sẽ tổ chức vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4/2008 sau khi kết quả PISA năm 2006 được công bố và Phần Lan một lần nữa lại dẫn đầu.

Do có quá nhiều đoàn quốc tế bày tỏ mong muốn tới học tập – đến mức đã có lúc báo chí đã đùa rằng các hiệu trưởng ở Phần Lan chỉ làm mỗi việc là “hướng dẫn viên” cho các đoàn khách tới thăm trường- Phần Lan đã phải thông qua một văn bản quy định việc đón tiếp các đoàn nước ngoài và hiện nay chỉ có 17 trường được chọn trong số 80 trường đăng ký được phép đón đoàn quốc tế. Năm 2008, Phần Lan thu xếp đón 2000 chuyên gia giáo dục quốc tế tới học tập hệ thống giáo dục của mình. (Theo Helsingin Sanomat 25.2.2008)

Những khách tham quan và sinh viên sư phạm tương lai có thể theo dõi không khí học tập của học sinh từ ban công ở tầng trên của lớp học của Trường Norssi, một ngôi trường ở thành phố Jyväskylä miền trung Phần Lan. Điều quan sát thấy là một phương pháp giảng dạy thoải mái và hướng tới những kiến thức cơ bản. Ngôi trường này được xem là một một trường kiểu mẫu không hề có những đội thể thao, đội duyệt binh hay những dàn nhạc dạo (là những thứ phổ biến trong trường học ở Mỹ).

Hỏi chuyện Fanny Salo ở trường Norssi giúp hiểu thêm về chương trình giảng dạy không hoa hòe hoa sói. Fanny là một học sinh lớp 9 khá điệu đà, thích đọc những cuốn sách kiểu “Cô gái hớt lẻo” hoặc xem chương trình truyền hình nổi tiếng của Mỹ “Các bà nội trợ tuyệt vọng” (Desperate Housewives) và thích cùng bạn đi mua sắm tại các siêu thị quần áo H&M.

Fanny luôn đạt điểm A và vì không có lớp dành riêng cho các học sinh xuất sắc nên thỉnh thoảng bôi nghệch ngoạc lên vở của mình trong khi chờ đợi các bạn làm bài. Cô rất hay giúp giúp đỡ các bạn học kém hơn trong lớp. “Có thời gian xả hơi một chút trong lớp cũng thú vị”, Fanny nói. Các nhà giáo dục của Phần Lan thì tin rằng thành tích trung bình của họ cao hơn là vì tập trung cho các học sinh yếu chứ không phải là chăm lo cho các học sinh giỏi để chúng vượt hẳn lên các bạn khác. Lý tưởng mà họ muốn thực hiện là các học sinh xuất sắc có thể giúp các bạn học trung bình mà không làm tổn hại tới thành tích của chính các em.

Vào giờ ăn trưa, Fanny và các bạn của mình rời khuôn viên trường đi mua vài món ăn nhanh như salmiakki và licorice rồi sau đó quay trở lại trường học môn vật lý và lớp học sẽ bắt đầu khi mọi người đã vào lớp và giữ yên lặng. Thầy giáo và học sinh gọi nhau bằng tên gọi (first names). Quy định duy nhất của lớp là trong lớp không được sử dụng điện thoại di động, máy nghe nhạc iPod và đội mũ.

Các bạn học quậy hơn của Fanny thì nhuộm những mái tóc vàng của họ thành màu đen hay những kiểu đầu màu hồng kỳ dị. Những bạn khác thì ăn bận kiểu cách hay mặc những bộ quần áo có dây xích loằng ngoằng để trông dữ dằn hơn trong thời tiết giá lạnh. Một nhóm thì thích bôi kem chống nắng lên khắp người. Từng nhóm có chung phong cách thì tụ lại với nhau, lũ thì thích phong cách fruittari, preppies, happari, hip-hop hay kết hợp giữa fruittari-hoppari. Nếu ai đưa ra một câu hỏi ngố, lập tức bị đốp ngay bằng câu “KVG”, viết tắt của cụm từ “Đi mà tra trên google ấy, ngốc ạ”. Các nhóm hâm mộ của thể loại nhạc heavy-metal thì nghe Nightwish, một ban nhạc nổi tiếng của Phần Lan và các nhóm bạn thì thường tìm nhau trên mạng irc-galleria.net.

Trường Norssi hoạt động giống như một cơ sở thực tập, hàng năm có khoảng 800 học sinh sư phạm thực tập tại đây. Các sinh viên sư phạm thực tập trực tiếp với trẻ và thầy cô giáo giám sát từ xa. Giáo viên bắt buộc phải có bằng thạc sĩ và nghề giáo thì mang tính cạnh tranh cao: một vị trí giáo viên có thể phải cạnh tranh với khoảng 40 đồng nghiệp. Lương của giáo viên Phần Lan thì tương tự như giáo viên Mỹ nhưng quyền tự chủ cao hơn nhiều.

Các giáo viên của Phần Lan được tự chọn sách giáo khoa và được chủ động soạn bài giảng miễn là hướng theo chương trình chuẩn quốc gia. “Ở hầu hết các nước, giáo dục giống như là một nhà máy sản xuất xe hơi. Ở Phần Lan, giáo viên giống như những doanh nhân – họ năng động và chủ động hơn nhiều”, ông Schleicher, giám đốc phụ trách PISA của OECD có trụ sở tại Paris từ năm 2000,  so sánh.

Một lý giải cho thành công của học sinh Phần Lan là tính ham đọc sách. Cha mẹ mới sinh con sẽ được chính phủ tặng một giỏ sách mới, kể cả chuyện tranh. Một số thư viện nằm luôn trong trung tâm mua sắm và xe bus chở sách phục vụ tới tận những vùng sâu vùng xa là một nét rất riêng và độc đáo của Phần Lan.

Tiếng Phần Lan không giống bất cứ một tiếng nào trên thế giới và thậm chí những cuốn sách tiếng Anh rất nổi tiếng phải rất lâu sau khi phát hành mới được dịch ra tiếng Phần Lan. Rất nhiều trẻ em Phần Lan vì thế phải cố đọc tập cuối Harry Potter bằng nguyên bản tiếng Anh bởi chúng sợ biết được kết chuyện trước khi có bản tiếng Phần Lan. Phim và các chương trình truyền hình được giữ nguyên bản tiếng nước ngoài và có phụ đề tiếng Phần Lan và không bao giờ có thuyết minh lại. Một sinh viên bộc bạch rằng cố đọc giỏi từ hồi còn rất nhỏ là bởi mê chương trình từ những năm 90s là Beverly Hills.

Vào tháng 11 năm ngoái, một đoàn đại biểu của Mỹ thăm Phần Lan với hy vọng học cách những nhà giáo dục ở đây ứng dụng công nghệ trong giáo dục ra sao. Thế nhưng các quan chức từ Bộ giáo dục, Hiệp hội giáo dục quốc gia và Hiệp hội thư viện Mỹ đã chứng kiến thực tế rằng các giáo viên Phần Lan vẫn sử dụng bảng phấn thay vì bảng bút dạ và các bài học vẫn được chiếu bằng máy chiếu chứ không sử dụng chương trình Powerpoint. Và Keith Krueger không hề ấn tượng bởi công nghệ trong trường học mà ấn tượng mạnh là những bài giảng của giáo viên. Krueger, Chủ tịch của Tập đoàn mạng lưới các trường học, hiệp hội các quan chức công nghệ ứng dụng trong trường học, người tổ chức chuyến đi này nói: “Bạn sẽ phải tự đặt câu hỏi bao giờ thì nước Mỹ mới đạt tới trình độ ấy?”

Elina Lamponen, một học sinh trung học tại Phần Lan nhận biết rõ sự khác biệt ấy. Em học một năm tại trường trung học Colon, bang Michigan và thấy rằng kỷ luật sắt đã không mang lại những bài học tốt hơn và không làm cho học sinh hứng thú học hơn, em kể và nhớ lại rằng em hỏi các bạn rằng thế tối qua bạn đã làm bài tập về nhà chưa và câu trả lời sẽ là Chưa, thế tối qua bạn làm gì? Các bài kiểm tra môn lịch sử đều dưới dạng trắc nghiệm và câu hỏi tự luận khó không tạo cơ hội để có thể viết được nhiều. Trong lớp, các đề bài thường là “dán cái này vào poster trong một giờ”. Khi quay trở về Phần Lan, Lamponen, 19 tuổi, buộc phải học lại một lớp.

Lloyd Kirby, cán bộ quản lý giáo dục tại Trường cộng đồng Colon ở miền Nam Michigan nói rằng học sinh được dạy rằng chúng có quyền đòi hỏi thêm bài tập nếu thấy nội dung trên lớp quá dễ. Ông nói, ông đang cố gắng đưa trường học quy củ hơn bằng việc yêu cầu phụ huynh đặt yêu cầu cao hơn với con cái.

Dù rằng triết lý giáo dục của Phần Lan tưởng như đơn giản nhưng để áp dụng chúng vào Mỹ cũng sẽ rất khó khăn. Với đặc thù dân số thuần nhất, giáo viên có rất ít sinh viên không nói tiếng Phần Lan. Trong khi đó, theo Bộ giáo dục Mỹ, có khoảng 8% học sinh ở Mỹ đang phải học tiếng Anh. Sự chênh lệch trình độ giáo dục và mức thu nhập của các gia đình ở Phần Lan cũng ít hơn nhiều. Phần Lan tập trung định hướng cho học sinh trong ba năm cuối trung học cơ sở dựa trên điểm số; 53% học sinh học tiếp lên trung học, số còn lại học nghề. Có khoảng 4% học sinh Phần Lan không theo hết trung học và 10% không theo hết chương trình học nghề so với 25% học sinh ở Mỹ – theo như điều tra của Bộ giáo dục Mỹ.

Một điểm khác biệt nữa là vấn đề tài chính. Mỗi năm học, nước Mỹ chi trung bình 8.700 USD cho một đầu học sinh trong khi ở Phần Lan chỉ khoảng 7.500 USD. Với chính sách thuế rất cao của chính phủ, Phần Lan chia đều số tiền chi cho các học sinh không giống như mức chênh lệch rất cao giữa các trường học công như Beverly Hills và các trường ở vùng nghèo hơn của nước Mỹ. Mức chênh lệch kiến thức giữa học sinh giỏi nhất và kém nhất Phần Lan là nhỏ nhất trong số các quốc gia tham gia điều tra PISA. Nước Mỹ đứng ở vị trí trung bình.

Học sinh Phần Lan hầu như không bị áp lực phải vào được các trường đại học hàng đầu và cũng không phải lo lắng phải trả học phí cao để vào được những trường danh tiếng nhất. Giáo dục là miễn phí. Chỉ có sự cạnh tranh dựa vào chuyên ngành của trường, ví như trường Y chẳng hạn. Và thậm chí các trường đại học tốt nhất của Phần Lan không có vị trí xếp hạng giống như Harvard của Mỹ.

Chính vì không phải cạnh tranh để vào những trường điểm đã cho phép học sinh Phần Lan được hưởng một tuổi thơ ít bị áp lực hơn. Trong khi đó thì các phụ huynh ở Mỹ phải vật vã để đưa bằng được con cái vào được trường mẫu giáo tốt còn trẻ em Phần Lan bắt đầu đi học khi lên 7, muộn hơn một năm so với trẻ em ở Mỹ.

Thế nhưng khi bắt đầu đi học, trẻ em Phần Lan tự lập hơn nhiều. Trong khi các bậc cha mẹ ở Mỹ phải lo đưa con cái tới trường và đón về nhà hàng ngày và phải lo thu xếp công việc để đi cùng chúng trong những ngày nhà trường tổ chức đi chơi, dã ngoại thì các trẻ em Phần Lan thường tự làm những việc này không cần cha mẹ hỗ trợ. Tại trường Ymmersta gần ngoại ô Helsinki, một số học sinh lớp một đi bộ tới trường khi trời chưa sáng hẳn. Buổi trưa, tới giờ ăn, chúng từ lấy thức ăn, được trường nấu miễn phí, và tự mang khay tới các bàn ăn. Không có bất cứ sự hạn chế nào về việc sử dụng Internet trong thư viện trường. Chúng có thể đi lại trong lớp mà chỉ mang bít tất, nhưng thậm chí ở nhà những đứa trẻ còn rất nhỏ cũng tự buộc dây giày trượt băng và tự đi cây trượt tuyết.

Phần Lan hiện đang có mức sống ở nhóm cao nhất thế giới nhưng lúc nào cũng lo sợ sẽ tụt hậu trong nền kinh tế toàn cầu. Phần Lan dựa vào những công ty điện tử và viễn thông như tập đoàn khổng lồ NOKIA cùng với các sản phẩm giấy và ngành công nghiệp khai khoáng. Một số nhà giáo dục kêu gọi Phần Lan cần phải sàng lọc học sinh ưu tú theo cách mà nước Mỹ vẫn làm và cần có các chương trình giáo dục đặc biệt để sản sinh ra nhiều hơn những nhân vật xuất chúng. Các bậc phụ huynh gần đây cũng quan tâm nhiều hơn tới các con của mình, Tapio Erma, hiệu trưởng của trường Olari nói, và chúng tôi cũng ngày càng thấy rõ hơn có các bậc phụ huynh có kiểu suy nghĩ như người Mỹ.

Trường của ông Erma là một trường kiểu mẫu. Mùa hè vừa rồi, tại một hội thảo tại Peru, ông đã trình bày về các phương pháp giảng dạy của Phần Lan. Và vào một buổi chiều gần đây trong một lớp học toán ở trường ông, có một học sinh ngủ gục trên bàn. Giáo viên đã để yên cho em ngủ. “Ngủ trong lớp dù không thể tha thứ nhưng chúng tôi phải chấp nhận thực tế rằng chúng là những đứa trẻ và chúng đang học cách sống,” ông nói.

Bản dịch của Nguyễn Thành Huy (Theo Wall Street Journal 29-02-08)

Tháng Chín 5, 2008 Posted by | 9. Đọc và suy ngẫm | Bạn nghĩ gì về bài viết này?