XỨ QUẢNG

Phan Tộc Kỷ Yếu – Chương Hai: CÁC SINH HOẠT CỦA TỘC HỌ

CHƯƠNG HAI

CÁC SINH HOẠT CỦA TỘC HỌ

LẬP PHỔ HỆ :     

Nhờ có Phổ Hệ con cháu đời sau biết rõ được nguồn gốc của mình, không bị thất truyền. Tộc ta, cũng như các tộc khác đều có Phổ Hệ. Trải qua trên 500 năm lịch sử của Dòng Tộc, Tộc ta đã nhiều lần lập Phổ Hệ và lưu lại cho đến ngày nay :

– Lần thứ Nhất :

Do Ông Phan Long Lân, Phái 5 Đời thứ 4 lập từ Đời Thứ 1 – Đời Thứ 4.

– Lần thứ Nhì :  

Năm 1634, năm Đức Long thứ 6, do 2 ông Phan văn Du và ông Phan Ngọc Điện, Phái 5 Đời thứ 6 lập.

– Lần thứ Ba :

Năm 1810, năm Canh Ngọ, Gia Long thứ 9, do ông Phan Nhơn Tá, Phái 5 đời thứ 9 lập Phổ Hệ Tự Tự. Trong Phổ Hệ Tự Tự, ông Nhơn Tá đã viết ” Năm Đức Long thứ 6, ông Phan văn Du, phái 5 đời thứ 6, bảo em cùng đời ông nội, là Phan Ngọc Điện chép lại sự tich tổ tông. Ông Điện dựa theo bổn cũ chép ra, dâng lên Ngài xem. Sau đó Ngài giao cho ông Tổ ta cất giữ… Qua cứ liệu này, chữ ” bổn cũ ” cho thấy Tộc ta đã có Phổ Hệ từ trước, do ông Phan Long Lân lập – Ông Long Lân là nội tổ của ông Du và ông Điện.

– Lần thứ Tư  :

Do ông Phan văn Nghi, Phái 1 đời thứ 9 và con là Phan văn Sỹ cùng viết ” Thủy Tu Phổ Hệ Phan Tộc “.

– Lần thứ Năm  :

Năm 1856 Bính Thìn, năm Tự Đức thứ 9, ông Phan Khắc Nhu 2/11 lập Phổ Hệ Nguyên Tự.. Trong lời mở đầu Phổ Hệ Nguyên Tự ông Phan Khắc Nhu đã viết ” … Năm Bính Dần triều Gia Long thứ 6,những bậc lương đống cùng những người làm mọi nghề nghiệp trong Tộc đều được triệu tập, họp lại ghi chép rõ ràng nhưng chưa đầy đủ… “. Ông Nhu đã dựa theo Phổ Hệ Bính Dần chép và bổ sung một số đời kế tiếp.

– Lần thứ Sáu :

Năm 1891 Tân Mão, năm Thành Thái thứ 3, ông Phan Trân 2/12 lập Phổ Hệ Tiểu Tự viết tiếp đến đời thứ 9.

Qua các tư liệu đã dẫn, chúng ta thấy từ Ngài Sơ Tổ và Ngài Thủy Tổ vào Nam lập nghiệp đến năm Tân Mão (1891), tộc ta đã 6 lần lập Phổ Hệ. Thời gian ngắn, dài tuy có khác nhau nhưng vẫn giữ được tính liên tục. Thế thứ các đời từ Ngài Sơ Tổ đến đời thứ 9 được ghi chép đầy đũ, không bị gián đoạn. Tất cả Phổ Hệ trước đây đều viết bằng chữ Hán. Phổ Hệ Tiểu Tự do ông Phan Trân lập năm 1891 là quyển cuối cùng còn lưu lại đến nay do ông Phan Nhơn 3/12 ở Gò Vấp, Tp. HCM cất giữ.

Năm 1988, ông Phan Minh Sô 4/13 xin thỉnh về Đà Nẵng phiên âm và dịch ra tiếng Việt. Theo thường lệ, cứ khoảng 30 năm người ta trùng tu phổ Hệ 1 lần. Không rõ tại sao, từ năm 1891 đến năm 1945, tộc ta không chép thêm vào Phổ Hệ các đời kế tiếp.Trong chiến tranh từ năm 1945-1975 bà con thân tộc ly tán, việc tục biên Phổ hệ bị gián đoạn là điều tất yếu. Khi nước nhà độc lập và thống nhất, con cháu tộc ta, chỉ một số ít trở về làng cũ, còn đa số định cư tại những nơi đã đến làm ăn sinh sống trước đây. Đà Nẵng, các huyện khác ở Quảng nam, Tp.HCM, Đà Lạt… là những nơi con cháu tộc ta sinh cư nhiều nhất.

Tình trạng chia cách này sẽ ảnh hưởng không tốt đến tình đoàn kết, tính thống nhất của dòng tộc. Bốn mươi năm sau nữa, con cháu chẳng còn biết gốc tích của mình ở đâu, mình là người thuộc họ Phan nào. Lập Phổ Hệ Tộc, do đó là việc làm hết sức bức thiết cần phải làm ngay. Hai đoạn mở đầu trong 2 bài tựa ghi dưới đây, chứng minh cho điều ấy :

– Phổ Hệ Nguyên Tự viết : ” Phổ Hệ ghi chép sự tích làm rõ từ các đời vậy. Vì sự tích tiền nhân, thứ tự các đời không được lưu truyền lại thì thứ tự lớn nhỏ, cao thấp của đời sau mất đi, để lại cái tệ là không biết qui về đâu, làng nào, xã nào. Huống hồ công đức tổ tông trăm đời không đổi, do đó không thể không rõ ràng …”.

– Phổ Hệ Tiểu Tự viết : ” Nước sông Hoàng Hà chia chảy nhiều giòng, nếu không tìm cội nguồn thì có thể xem cành lá sum sê của cây đồng trên núi Dịch Dương nước Sở và nước Việt như nhau. Để làm rõ điều đó phải có Phổ Hệ. Thật một ngày không thể không có vậy …”

Đến nay tộc ta đã có con, cháu đến đời thứ 19 mà Phổ Hệ Tiểu Tự chỉ ghi chép đến đời thứ 9. Các đời từ thứ 10 về sau càng đông hơn, lại ở tản mạn khắp nơi. Nếu không kịp trùng tu Phổ Hệ thì hậu quả sẽ tai hại vô cùng, con cháu sẽ chia lìa, hậu thế thất truyền, không còn biết nguồn gốc, không còn tưởng nhớ đến công đức của tổ tiên.

– Lần thứ Bảy :

Năm 1994 Giáp Tuất. Ý thức được tầm quan trọng và sự cấp thiết của vấn đề, ông Phan Sô 4/13 và Phan đức Mỹ 3/14 đã đề xuất với tộc việc trùng tu Phổ Hệ nhân ngày Thanh Minh năm Tân Mùi ( 5.4.1991 ). Tộc hoan nghênh chủ trương này và đã ủy nhiệm cho 2 ông Sô và ông Mỹ lo việc tổ chức và nội dung buổi họp. Buổi họp đầu tiên được tổ chức tại nhà ông Phan Lẫm 5/14, số 87 đường Lê Lợi Đà Nẵng, ngày 19.5.1991 ( Mồng 6 tháng 4 năm Nhâm Thân ), gồm Đại diện 5 Phái. Thật ngẫu nhiên và thật kỳ lạ, buổi họp tục biên Phổ Hệ lần này lại đúng vào năm thứ 100, năm ông Phan Trân viết Phổ Hệ Tiểu Tự năm Tân Mão (1891).

Lần trùng tu này, lấy Phổ Hệ năm 1891 làm cơ sở và chép tiếp từ đời thứ 10 đến đời thứ 13. Phổ Hệ viết bằng chữ quốc ngữ. Riêng tên các Ngài từ đời Sơ tổ đến đời thứ 10 âm thêm chữ Hán vì có một số chữ Hán, viết một chữ nhưng đọc nhiều âm khác nhau. Ví dụ: Chữ        đọc là Phân, Phận, Phần; Chữ         đọc là Tần, Tiến v.v… Để bảo đãm cho việc lập Phổ Hệ đạt kết quả tốt  phải có tổ chức và người chịu trách nhiệm. Tất cả bà con thân tộc các nơi có bổn phận tham gia, nhưng chịu trách nhiệm chính là các thân tộc ở Bảo an. Hội nghị nhất trí bầu một Ban lấy tên là: Ban Tục Biên (BTB) Phổ Hệ Phan Cả và cử các vị sau đây vào ban tục biên :

– Trưởng Ban: Phan Niên 3/13 Bảo An.

– Phó Trưởng Ban: Phan Minh Sô 4/13 Đà Nẵng.

– Phó Ban 2: Phan On 5/14 Bảo An.

– Tổng Thư ký: Phan đức Mỹ 3/14 Đà Nẵng.

– Uy viên:

 Phan Hý 3/13 Đà Nẵng,

Phan Đức Thông 3/14 Bảo An,

Phan Trà 4/14 Baỏ An,

Phan Lẫm 5/14 Đà Nẵng,

Phan Tuấn 1/15 Đà Nẵng.

– Cố vấn chung : Phan Mạch 2/13 Đà Nẵng.

– Phụ trách tài chánh :Phan Nam                    2/15          Đà Nẵng.

– Các nơi khác                       : – Hà Lam     1 Uy viên

                                              – Tp.HCM    1 Phó Ban và 2 Uy viên.

Ban tục biên bắt tay ngay vào công việc:

– Mỗi Phái cử người đi trực tiếp đến từng gia đình để ghi chép. 

– Gởi thư ngỏ về việc tục biên Phổ hệ toàn tộc đi các nơi trong và ngoài tỉnh.

-Cử Phan Huỳnh Điểu và Phan đức Mỹ đi Tp.HCM để trình bày việc tục biên  và đồng thời xin cử người vào ban tục biên.

– Tham khảo một số Phổ hệ của các tộc khác, nghiên cứu và đối chiếu với Phổ hệ của tộc ta: Họ Nguyễn, Ngô, Phạm ở Bảo an, họ Trần Công ở Tư Phú, họ Nguyễn Đình, họ Trần ở Kỳ Lam, họ Đoàn ở Xuân Đài.

Sau 10 tháng, kể từ ngày thành lập Ban Tục Biên – đi sưu tra, nghiên cứu, góp nhặt tư liệu của bà con các nơi gởi về, Phan Đức Mỹ đã xây dựng một bản thảo ghi chép được khoảng 80% con cháu các đời kế tiếp của các vị Tổ đời thứ 9. Trong dịp Thanh minh năm Nhâm Thân (5.4.1992) Phan Đức Mỹ báo cáo kết quả và trình bày bản thảo trước đông đủ bà con về dự lễ tại nhà thờ Tộc ở Bảo an. Bản thảo đưọc photocopy thành 4 bản gởi các nơi : Bảo an, Tp.HCM và Đà lạt để bà con các nơi ấy bổ sung hoặc sửa chữa những sai sót. Năm 1992, sau khi nhận lại các bản thảo đã được bà con bổ sung và sửa chữa,Phan Đức Mỹ viết sạch lại và đóng thành một tập dày gần 500 trang. Phổ hệ gồm có: – Lời nói đầu – Tựa các Phổ hệ cũ (phiên âm và dịch ra tiếng Việt ) – Thế thứ các đời từ đời thứ 1 đến đời thứ 13 – Phần phụ lục ghi bản tổng kết hoạt động của Ban Tục Biên ( BTB) và những ý kiến đóng góp xây dựng Phổ hệ, Bản Cung Lục Thực Lục bằng chữ Hán.

Phổ hệ này được photocopy gởi Bảo an1 bản, Đà Nẵng 1 bản, Tp.HCM 2 bản. Ban tục biên phân trách nhiệm trình bày nội dung Phổ hệ mới với bà con các nơi trong các buổi lễ tưởng niệm công đức tổ tiên. Suốt trong năm 1993, BTB không nhận thêm một ý kiến nào mới nữa cuả bà con  các nơi. Nhận thấy, nếu có chờ đợi cũng chẳng được gì hơn, BTB đề nghị với tộc cho phát hành chính thức quyển Phổ hệ vừa được tục biên này. Tộc nhất trí.

Phan Huỳnh Điểu 2/14 viết lại bằng tay toàn bản Phổ hệ, trừ bản Cung Lục Thực Lục bằng chữ Hán. Phổ hệ đã được photo thành 9 tập, bìa cứng, chữ màu vàng gởi các nơi: – Bảo an 6 tập, Họ Cả 1 tập, mỗi Phái 1 tập – Đà nẵng 1 tập – Tp.HCM 1 tập.

Sau khi phát hành Phổ hệ, tộc có thông báo cho bà con thân tộc biết: ” Từ nay, nếu thấy Phổ hệ còn có gì sai sót, xin viết thư về cho tộc để bổ sung và sữa chữa trong lần tục biên sau này.

Trong buổi Lễ Thanh Minh năm Giáp Tuất (5.4.1994), trước đông đủ bà con khắp nơi trong nước về dự Lễ, ban Đại diện Tộc tuyên dương Ban Tục Biên Phổ Hệ đã hoàn thành tốt trọng trách của tộc giao. Tộc cũng đặc biệt ngợi khen các ông:

– Phan Đức Mỹ tức Nam Hà đã góp nhiều công sức trong suốt thời gian biên tập.

– Phan Huỳnh Điểu đã bỏ rất nhiều công sức, ngồi ròng rã suốt 4 tháng trời để chép tay gần 500 trang (cở giấy 21cm.27cm) của cuốn Phổ hệ.

Công lao của các vị trong ban Biên tập và một số đông các vị khác nữa, mà chúng tôi không có đủ điều kiện để nêu tên trong tập sách này, thật vô cùng quý giá và thật đáng trân trọng .

Ngoài các Phổ hệ Phan Cả, các Chi Phái đều có lập Phổ hệ riêng cho Chi Phái của mình. Đa số chưa được đầy đủ. Chỉ có Phổ hệ của Phái 2 là tương đối đầy đủ nhất :

– Phổ hệ năm 1907 viết bằng chữ Hán do 2 Ông Phan Nghiên, và Phan thúc Luyện đời thứ 12 lập .

– Phổ hệ năm 1965 do  ông Phan xuân Cáo, Phan Quý Thuyên đời thứ 13 và ông Phan Bá Mạo đời thứ 14 phụng dịch từ chữ Hán ra tiếng Việt. Ông Phan xuân Cáo viết lời tựa. Các ông tiếp tục sưu tầm, bổ túc, biên soạn lại và ấn hành vào năm 1971.

Hiện nay các Chi Phái đều tiếp tục viết tiếp Phổ hệ đến đời thứ 19 – 20.

Trong các Phổ hệ từ trước đến nay chỉ ghi các đời con trai mà không ghi con gái. Tộc đã thống nhất và quyết định từ nay về sau sẽ ghi tất cả các con, dù trai hay gái. Gái chỉ ghi một đời, tên chồng và quê quán.

 

XÂY DỰNG NHÀ THỜ TỘC, PHÁI :

Nhà thờ Họ Cả không rõ đã xây dựng từ năm nào, dưới triều vua nào. Theo tài liệu di lưu, chúng ta được biết, khi còn làm quan, nhân lúc về kinh, Ngài Thủy Tổ có mua một cái khám đem về, dặn con cháu rằng” Sau khi ta chết, dùng khám này mà thờ”.

Sau nhiều năm, khám này bị mối mọt ăn hư nát. Ông Phan Ngoạn (P2) mua một khám khác thay thế. Năm Đinh Hợi, đời Đồng Khánh, Từ Đường bị cháy, ông Phan văn Phụng (P5) mua một cái tại Hà Nội đem về để thờ. Trong Phổ Hệ lập năm Tự Đức thứ 9 tuế thứ Bính Thìn, trong bài tựa ” Phổ Hệ Nguyên Tự ” do ông Phan Khắc Nhu viết; ” Năm Tân Hợi, mùa đông, bổn tộc họp tại Từ Đường để cử hành lễ … “.

Qua các tư liệu dẫn trên, chúng ta thấy rõ, Tiền nhân chúng ta đã từ lâu xây dựng Từ Đường để thờ phụng Tổ tiên qua nhiều thời kỳ, trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước :

– Trước năm 1945 :

Ở Bảo An, trước năm 1945, có một Nhà Thờ Phan Cả và 5 Nhà Thờ Phái, thờ 5 Ngài Thế Tổ Phái. Lấy Đình làng làm trung điểm. Từ Đình đi lên phía Tây, ta gặp trước tiên là Nhà Thờ Phái Ba (4), rồi đến Phái Nhì (3). Từ Đình đi xuống phía Đông, trước hết là Nhà Thờ Phái Nhất (8), đến Nhà Thờ Phan Cả (9), rồi đến Phái Tư (10) và Phái Năm (11). Trong các Nhà Thờ Phái, Nhà Thờ Phái Nhì, sau khi trùng tu, đẹp hơn cả.

Nhà thờ Phan Cả được xây dựng trên một khu đất cao và rộng. Chiều dài khoảng 60m, chiều rộng khoảng 50m. Nhà xây theo lối kiến trúc cỗ, trước là Tiền Đường, sau là Hậu Tẩm. Hai nhà có diện tích và kiểu mẫu giống nhau. Giữa hai nhà là một sân rộng, lát đá tấm hình chữ nhật. Nối liền hai nhà, hai bên có hai nhà cầu gọi là Hữu vu, Tả vu. Tiền đường cũng như Hậu tẩm, mỗi cái có kich thước 10m x 6m đều chia thành 5 gian. Tường xây bằng gạch thẻ dày, mái lợp ngói âm dương. Trên mái có đắp các tượng tứ linh . Bên phải Tiền Đường là Nhà Từ, chia làm hai phần : một cho người ở Từ , một phần làm nhà bếp. Trước mặt, trên cửa chính vào Nhà Thờ, xây một cái Lầu Môn, có cẩn bằng mãnh sành :” Tiền Hiền Phan Từ Môn “. Ngoài cửa chính có hai cửa phụ nằm ở phía Đông và phía Tây. Cửa chính chỉ được mở trong những ngày tế lễ. Thường ngày, ra vào bằng các cửa phụ. Mặt tiền, dọc theo đường đi, có tường thành cao trên 2m.

Về từ khí, ngoài các bộ tam sự, ngủ sự bằng đồng còn có một cái chuông đồng lớn, tiếng kêu rất trong.

Trong thời chiến tranh chống Pháp, đình chùa, miếu mạo đều bị phá hũy. Sáu Nhà Thờ tộc ta cũng chịu chung số phận. Nhà thờ Họ Cả chỉ còn một ít gạch vụn trên nền cũ.

– Sau năm 1954 :

Chiến tranh chống Pháp kết thúc. Đất nước chia đôi. Dân làng, trong đó có bà con tộc ta, đã chịu quá nhiều mất mát và đau khổ trong những năm tháng tản cư, lần lượt trở về làng cũ. Đời sống được dần dần ổn định. Tình hình chung có phần yên tỉnh. Bà con nghĩ đến việc lập lại nhà thờ để thờ phụng Tổ tiên đã bị bỏ quên trong những năm chiến tranh.

Năm 1956, một Ban vận động gồm các ông : Phan văn Thoại (tức Hương Sáu Toại), Phan văn Lộc (tức Xã Ẩn), Phan Du (tức Xã giảng), Phan văn Đàm (tức Biện Mậu) và một sồ người nữa.

Trưởng Ban Tri tộc : Phan văn Thoại.

Tư lễ                        : Phan Kinh.

Ban vận động đã cử người đi Sài gòn và Đà Nẵng để vận động bà con đóng góp xây dựng nhà thờ. Do ý thức về tộc họ của bà con lúc bấy giờ chưa cao, hơn nữa  việc làm ăn chưa hoàn toàn hồi phục sau 9 năm chiến tranh nên việc vận động không được kết quả mấy. Số tiền quyên được ở các nơi và ở quê nhà có thể xây dựng một cơ ngơi để thờ phụng nhưng không rộng rãi và huy hoàng bằng nhà thờ cũ.

Ban tri tộc đã mua lại hai cái nhà gỗ : 1 cái ở Hàm Rồng ( Trà kiệu) và một cái của ông Hương Luông trong làng. Hai nhà này, một cái dùng làm hậu tẩm và một cái dùng làm Tiền đường. Hậu tẩm và Tiền đường đều dựng lại trên nền cũ, tường gạch, mái ngói, trên mái có đắp lân, long, qui, phụng. Dọc theo đường cái chưa xây thành rào và cửa chính. Tộc dự kiến sẽ hoàn thành công trình phụ vào những năm sau. Nhưng đến năm 1961, tình hình thôn quê đã đổi khác, không còn yên tỉnh nữa. Đến năm 1964 -1965, bà con vừa tạm ổn định cuộc sống thì chiến tranh lại tràn đến. Một lần nữa, bà con lại bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ ruộng vườn chạy đi lánh nạn. Nhà thờ vừa xây xong năm 1958 thì đến năm 1966 lại bị phá hũy.

Trong chiến tranh chống Mỹ, Bảo An bị bom đạn tàn phá nặng nề nhất. Tất cả đều bị hũy diệt. Một làng quê trù phú vào bậc nhất trong tỉnh Quảng Nam đã biến thành bình địa, trở lại thời hoang sơ.

Sau ngày hòa bình được lập lại, bà con ta, một số ít trở về làng cũ, đa số đã ở lại các nơi mà họ đã sinh sống trong những năm chiến tranh, vì đã có cơ ngơi, cơ nghiệp ở đấy rồi.

Chính quyền xã lúc bấy giờ chưa có chủ trương cho phục hồi các nhà thờ tộc. Đất đai trong xã được qui hoạch lại, phân thành lô 20m x 30m. Mỗi hộ được cấp một lô. Khu đất Nhà Thờ cũ được chia thành lô. Ông Phan Huỳnh 5/13 nhận một lô. Hai ông Phan văn Tài 5/13, Phó Chủ tịch UBND xã, ông Phan On 5/14 Ủy viên Ban qui hoạch xã lúc bấy giờ đã nghĩ đến việc sẽ xây dựng lại nhà thờ sau này nên đã xin thêm được một lô, cho sát nhập vào lô của ông Phan Huỳnh.

Sau khi nhận lô đất này, ông Huỳnh đã thu nhặt gạch, đá còn sót lại chất thành một cái bệ, trên bệ đặt một lư hương để thờ vọng Tổ tiên. Chung quanh bệ, trồng phượng để tạo cho khung cảnh nơi thờ phụng được tôn nghiêm và nhất là để người ngoài trông vào không thấy! Những ngày giỗ Tiền Hiền và 5 Ngài Thế tổ, bà con đều đến thắp hương và khấn niệm.

– Năm 1977 :

Năm 1977, sau khi dời các ngôi mộ của ông bà Tiền Hiền và 5 Tổ Phái sang nghĩa trang Bạc Hà, xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, bà con ta ở quê nhà âm thầm đặt kế hoạch tái lập Nhà Thờ như sau :

– Mua lại của bà Phan thị Kha 4 cây gỗ dỗi, Bà Phan thị Quế 2 cây gỗ với giá ủng hộ.

– Kêu gọi bà con ủng hộ một số gỗ thù đâu ( sầu đông) để làm kèo, tre để làm đòn tay và đan phên.

Tất cả sườn nhà, mái nhà, tôn , phên đều tập trung tại nhà ông Phan Lượng 1/14 để chuẩn bị trước. Vào lúc 1 giờ đêm, các bộ phận đã được làm sẵn và vật liệu của căn nhà được  chuyển đến lô đất đang có bệ thờ. Công việc lắp ghép, lợp mái, che tường … đều được thực hiện ngay trong đêm hôm ấy. Sáng ra, nếu chính quyền có biết thì xem như việc đã rồi.

Nhà chia làm 3 gian, mái tôn, tường bằng phên tre, nền đất. Nhà làm dưới dạng một nhà ở thường để tránh sự xoi mói của mọi người. Làm xong nhà thờ, bà con vận động thêm được một số ván, đóng 3 cái đẳng dùng làm bàn thờ.

Cơ ngơi thờ phụng đã có, bà con tổ chức lại việc tế lễ trong những lễ giỗ Ngài Tiền Hiền và 5 Ngài Thế Tổ.

Bốn, năm năm sau, phên tre mái tranh bị nắng mưa làm mục nát, Ban tri tộc cử ông Phan Ngọc Cầu (ông Biện Khanh) ra Đà Nẵng vận động bà con đóng góp tiền để xây lại tường gạch và 3 bệ thờ. Các ông Phan Sô, Phan Phẩm, Phan văn Tờn (ông Bốn Được) do ông Phan Trình 1/14 hướng dẫn đến các nhà bà con ở Đà Nẵng để vận động. Sở dĩ ông Trình biết được nhiều nhà bà con trong thân tộc vì lúc ấy ông đang làm thu ngân viên cho nhà máy nước Đà Nẵng, thường đi lại khắp nơi trong vùng. Ông Trình là người rất nhiệt tâm với Tộc họ. Trong những năm chiến tranh, ông đã đứng ra tổ chức Lễ Thanh Minh tại nhà ông. Lễ tế được tổ chức theo nghi thức cổ truyền. Bà con đến tham dự rất đông.

Cuộc vận động nằm trong thời kỳ bao cấp. Bà con ta đều làm ăn sa sut, cán bộ công nhân viên chỉ có đồng lương cố định vì vậy việc vận động không thu được kết quả khả quan. Phan Đức Mỹ 3/14 tức Nam Hà, bấy giờ là Phó Giám đốc Công an QN/ĐN về thăm nhà thờ, có cúng 5 bao ciment. Tuy với số tiền ít ỏi ấy, tộc ta cũng xây lại được 3 bức tường gạch và 3 bệ thờ. Cát tô, xây và công do bà con ở Bảo An đóng góp.

– Năm 1989 :

Đến năm 1988, một số tôn mái nhà bị rét rỉ, đòn tay tre bị mục nát, nhà thờ bị xuống cấp, cần phải trùng tu nếu không sẽ bị sụp đỗ. Nhận thấy bà con ta nay đã ổn định nơi ăn ở, kinh tế phục hồi, công việc làm ăn phát đạt, tình hình kinh tế sáng sủa hơn, Ban Tri tộc đề xướng xây dựng mới lại nhà thờ. Trong một thư ngỏ, do 5 ông trưởng Phái ký tên, đã được gởi đến các nơi trong cũng như ngoài nước kêu gọi bà con đóng góp tài vật để thực hiện công trình nói trên.

– Ở Tp.HCM, các ông Phan Toán, Phan Hiên, Phan Nhi, Phan Kinh, Phan Chính… chịu trách nhiệm vận động bà con trong ấy. 

– Ở Đà Nẵng, ông Phan Sô đã cùng các ông Phan Minh Lộc, Phan Huỳnh Điểu, Phan Tuấn đi mời bà con họp để phổ biến chủ trương của tộc. Phan Tuấn mượn được 1 phòng tại chùa Chiêu Ứng, đường Lý Thái Tổ để họp. Đến dự họp có trên 30 người. Ông Sô báo cáo tình hình nhà thờ hiện tại đã xuống cấp, số tiền bà con ở Tp.HCM đã đóng góp được, đồng thời kêu gọi bà con tích cực tham gia. Bà con nhiệt liệt hưởng ứng. Phan Minh Lộc làm thủ quỹ. Tiền đóng góp của mỗi người đều ghi vào sổ quỹ và có xuất phiếu thu. Tổng số tiền thu được chuyển về Ban Tri tộc ở Bảo An. (Phiếu thu và sổ quỹ không còn lưu giữ nên không rõ số tiền đã thu được bao nhiêu). Trong khi chờ đợi làm nhà thờ, số tiền ở Tp.HCM thu được đều mua vàng giữ lại, sợ để tiền mất giá. Trong số tiền do ban vận động ở Tp.HCM gởi về, rất tiếc chúng tôi không nắm rõ được danh sách của từng người cụ thể ở trong cũng như ở nước ngoài để ghi vào đây được.

Tộc dự kiến khởi công xây dựng nhà thờ vào đầu năm 1989. Ban xây dựng nhà thờ gồm có :

– Tp.HCM  : Các ông Phan Toán, Phan Kinh, Phan Trung Tẩn, Phan Nhi.

– Ở Bảo An : Các ông Phan Lượng, Phan Nhị, Phan On, Phan Trà, Phan Chín và Phan Tiết.

Giám sát thi công  : Ông Phan Kinh.

Thư ký                            : Ông Phan Chiến.

Công trình khởi công vào đầu năm 1989 và khánh thành vào dịp Thanh Minh năm Kỷ Tị (5.4.1989), đúng như dự kiến. Bà con khắp nơi về tham dự rất đông.

Nhà thờ chia làm 3 gian, tường xây bằng gạch, mái lợp ngói ciment, chưa đắp tượng tứ linh. Mỗi gian rộng 2,20m dài 4m. Gian giữa kéo dài thêm 2m để làm khám thờ Ngài Tiền Hiền. Vật liệu nhà thờ cũ được tận dụng để làm nhà bếp. Về từ khí, bà con đã cúng :

– Ông Phan Lẫm                 5/14    : 1 tủ gỗ chạm.

– Gia đình ông Phan Bá Lân           : 1 bộ tam sự bằng đồng.

– Bà Phan thị Kính             4/14    :           – nt –

– Bà Phan thị Kham            3/13    :           – nt –

– Ông Phan Nhi                  3/14    :           – nt –

Còn một bộ chúng tôi chưa rõ người cúng. Tổng cọng 5 bộ.

– Thanh Minh năm Kỷ Mão 1999, ông Phan Như Liễu 3/14 từ Canada về cúng một chuông  đúc bằng đồng nặng 105 kg, đường kính đáy 0,56m, cao 1,27m. Mặt ngoài của chuông có chạm trổ hoa văn. Ông đã thuê thợ đúc gia truyền phưòng đúc Huế ở Sài gòn đúc bằng đồng nguyên chất, được chọn lọc kỷ lưỡng dưới sự giám sát của ông. Từ Sài gòn ông thuê xe chở về  Nhà thờ Tộc ở Bảo An. Về Bảo An ông thuê thợ mộc đóng một giá treo chuông bằng gỗ kiền kiền chắc chắn, có chạm trổ hoa văn. Chuông đưọc dâng cúng trong dịp Lễ Thanh Minh. Tiếng chuông trong và ngân xa, ai nghe cũng tấm tắc ngợi khen. Ông Phan Thành 4/13 từ Sài gòn về cúng một cái trống, đường kính mặt trống 0,8m, dài 1,2m. Ông đã thuê thợ làm trống cỗ truyền ở làng Lâm Yên, xã Đại Minh, huyện Đại Lộc thực hiện. ” Trống Lâm Yên, chiêng Phước Kiều ” là hai nơi làm trống và chiêng có tiếng ở Quảng Nam. Trống đã được phụng cúng trong ngày giỗ Ngài Thế tổ Phái Tư Mồng 8 tháng 3 năm Ký Mão 1999.

Sau khi khánh thành, bà con ở Tp.HCM vận động thêm được 1,5 triệu đồng. Các ông Phan Trung Tẩn, Phan Nhi, Phan Toán mang tiền về xây dựng tiếp  các công việc còn đang dang dở.

– Đắp tượng Long Lân Qui Phụng trên mái nhà thờ – Xây bình phong -Xây trụ biểu (trên có chạm nổi 2 câu liễn chữ Hán âm tiếng Việt) – Xây tường rào mặt tiền và lát gạch sân – Đóng 10 bộ bàn tròn và 100 ghế gỗ – Mua chén bát đĩa và tách trà.

Sau giải phóng 15 năm, con cháu xây dựng được một Từ Đường, tuy không bằng trước nhưng cũng đã có một cơ ngơi vững chắc, trước hết để thờ phụng Tổ tiên và sau là có nơi để con cháu hội ngộ khi về thăm lại cố hương.

– Năm 1996  Xây dựng Tiền Đường :

Đã có Nhà Thờ, hằng năm đến ngày Thanh Minh con cháu về dự rất đông. Ban tổ chức phải dựng một cái trại trước sân nhà thờ. Giàn làm bằng mấy cây tre, trên phủ vài tấm ni-lông. Khi làm lễ và khi ăn uống, bà con phải ngồi dưới nắng nóng. Quang cảnh trông chẳng đẹp mắt tí nào. Nếu có được một Tiền Đường thì tốt biết bao! Muốn có được chỉ còn trông nhờ vào bà con ở hải ngoại tiếp tay. Từ suy nghĩ ấy, ông Sô gợi ý với Tộc, cho ông viết thư gởi bà con ở nước ngoài kêu gọi họ đóng góp để thực hiện điều mong muốn. Nhân gặp Phan Bá Phụng 2/15 về thăm quê hương, ông Sô đề cập vấn đề này với Phụng. Phụng tán thành và bảo gởi thư cho bà Phan thị Kế tức bà trợ Bậc 2/13, con gái ông Chánh Huệ. Phụng sẽ tiếp tay với bà vận động bà con bên ấy. Thư gởi đi tháng 5 năm 1995 đến cuối năm Ất Hợi tức đầu năm 1996, ông Sô nhận được thư của bà Trợ Bậc với số tiền 1300 đô la Mỹ, do bà Phan thị Sự, cháu gái ông Tú Võ mang về. Theo thư, bà Trợ Bậc cho biết bà con ta ở Mỹ có nhiều nhưng không biết địa chỉ, hơn nữa bà vừa vận động tiền xây dựng Nhà Thờ  tộc tại Bình Triệu. Số tiền gởi về do con cháu ở gần chỗ bà đóng góp. Bà không thể làm hơn thế nữa.

Theo hối suất năm 1996, số tiền này đổi được 16 triệu đồng VN. Với số tiền này thì chưa có thể xây dựng được Từ Đường, ít nhất phải có hai lần như thế nữa.

Thanh Minh năm Bính Tý (5.4.1996) nhân có Phan Nhi ở Canada về, Phan Chính ở Tp.HCM ra, Tộc bàn nên vận động thêm bà con các nơi. Tộc nhất trí và thành lập ban vận động :

– Tại Tp.HCM : Ban Đại diện Tộc và Phan Chính phụ trách.

– Tại Quảng Nam, Đà Nẵng : Phan Sô, Phan Long, Phan Đức Mỹ, Phan Nam, Phan Hường, Phan Thê phụ trách.

– Tại nước ngoài : Phan Nhi, Phan Liễu, Phan Bá Phụng, Phan Mạnh Lương … phụ trách.

Đến ngày Giỗ Tổ, mồng 6 tháng 10 năm Bính Tý, số tiền lên đến 35 triệu. Tộc quyết định tiến hành việc xây cất; còn thiếu bao nhiêu, sẽ kêu gọi bà con đóng góp thêm trong dịp Thanh Minh năm Đinh Sửu (5.4.1997). Tộc cử ra Ban xây dựng gồm Đại diện 5 Phái, lập đề án xây dựng Từ Đường sao cho vừa chắc chắn, vừa thẩm mỹ mà  phù hợp với số tiền vận động được. Theo ý của tộc, Kỹ sư xây dựng Phan Thị Thục Anh 4/15, con ông Phan văn Thê, thiết kế và dự toán công trình, chiết tính và khảo giá vật liệu, nhằm giúp cho Ban xây dựng mua sắm vật liệu và gọi thầu dễ dàng.

Tiền Đường dài 10m, rộng 5m, xây cổ lầu, kết cấu bằng ciment cốt sắt, tường gạch, mái tôn chống nhiệt, trên có đắp tượng tứ linh. Ngoài ra còn xây lại bình phong và lát 80m2 sân bằng đanh ciment.

Tiền Đường khởi công xây cất  ngày 4 tháng 12 năm Bính Tý và khánh thành ngày Thanh Minh Đinh sửu (5.4.1997).

Số tiền do con cháu nội ngoại đóng góp xây dựng Tiền Đường :

* Tp.HCM : Gởi về 3 đợt :

          – Ngày 18.1.1997                                :         10.000.000 đồng.

          – Ngày 28.2.1997                                :         14.140.000 đồng.

          – Ngày 16.3. 1997                               :          3.500.000 đồng.            

* Quảng Nam/ Đà Nẵng :                                      8.400.000 đồng

* Hà Nội                                                     :               200.000 đồng.

* Nghệ An                                                   :               100.000 đồng.

* Quảng Ngãi                                              :               400.000 đồng

* Nước ngoài :

          – Phan thị Kế ( Bà trợ Bậc )    2/13      :                200 đô la Mỹ.

          – Phan Bá Phụng                2/15         :                500 –

          – Phan Mạnh Lương           2/14         :                 50 –

          – Phan Qui                          2/14         :                150 –

          – Phan Giảng                      2/14         :                300 –

          – Phan thị Hiền                   2/14         :                100 –

(Số tiền 1300 USD nói trên do bà trợ Bậc gởi về.)

– Phan Văn Hòa                                           :              100 đô Canada.

– Phan văn Huy                                            :              100  đô-la Mỹ.

– Phan văn Trọng                                         :               100  –

– Phan Toại                                                  :               100  –

– Phan Mười                                                :              100  –

– Phan thị Thanh Vân                                  :               100  –

– Phan  Liễu                                 3/14         :      3.300.000  đồng VN.

– Phan Bá Phụng ( lần 2 )                             :        500.000    –

* Tổng số thu                                              :   62.906.000    đồng

* Tổng chi                                                   :   62.567.000    đồng

* Còn tồn quỹ                                             :      339.000    đồng

 – Năm 1998 Xây dựng Nhà Từ :

Sau khi xây xong Tiền Đường, một vấn đề khác không kém quan trọng lại được đặt ra: Con cháu ngày nay đã xây dựng được một cơ ngơi đẹp đẽ, huy hoàng để thờ phụng Tổ tiên, không thể để cho trống vắng, vì mỗi năm chỉ có 6 lần con cháu tụ họp vào những ngày Giỗ Tổ Tiền Hiền, 4 vị Tổ Phái ( Phái Nhì đã có Nhà Thờ riêng) và Thanh Minh. Phải có người trông coi, quét dọn và thắp hương nhà thờ hằng đêm. Như vậy phải xây thêm một nhà Từ. Nhà Từ không những dành cho người ở từ mà còn là nơi để cho bà con ta ở xa về cúng bái Tổ tiên có nơi tạm nghỉ. Điều này thật rất chính đáng.

Nhân ngày Thanh Minh năm Đinh Sưủ, ông Phan Long đã trình bày vấn đề này trước đông đủ bà con về dự lễ. Bà con hưởng ứng nồng nhiệt và đã tự nguyện đóng góp ngay tại chỗ gần 3 triệu đồng. Sau đó Tộc tiếp tục vận động và đến cuối năm 1997, số tiền được trên 22 triệu đồng. Tuy chưa đủ tiền, nhưng Tộc vẫn quyết định xây cất. Nhà Từ khởi công xây cất đầu năm 1998 và hoàn tất vào ngày Thanh Minh năm Mậu Dần (5.4.1998). Nhà Từ do Kỹ sư Phan thị Thục Anh thiết kế và dự toán công trình.

Nhà Từ dài 12m, rộng 5m, chia làm 3 phòng : Phòng ngoài dùng làm văn phòng, phòng giữa dành cho khách vãng lai, phòng cuối dành cho người trông coi nhà thờ ở. Cuối nhà là nhà bếp, nhà tắm và nhà vệ sinh – hố xí 3 ngăn tự hũy – Trên nhà cầu có xây một hồ chứa nước với dung tích một mét khối. Ngoài nhà ở còn làm thêm một giếng đóng và trang bị máy bôm nước chạy bằng điện.

Nói chung, chỗ ăn ở cho khách và người Từ tương đối đầy đủ tiện nghi.

Số tiền do con cháu Nội Ngoại đóng góp xây dựng Nhà Từ:

* Nước ngoài :

– Phan văn Mính    4/14 : 100 USD – Ở Ca.USA.

– Phan thị Bích Hà 4/14 :   50    –           – nt –

– Phan Đức Bảo     4/14  :   50   –            – nt –

– Phan Dư Bách     4/14  : 100   –            – nt – 

– Phan  Liễu           3/14  : 125   –        Ở Canada.

– Phan Nhi             3/13  : 1.000.000 đồng VN – Ở Canada.

– Phan thị Kế         2/13  : 100 USD – Ở Ca. USA.

– Phan Bá Phụng   2/14   : 100    –            – nt –

– Phan Thị Thiệt    4/13  :  100    –         – nt –         

– Phan Qui             2/14  :  200    –            – nt –

– Phan Minh Lộc   5/14 : 650.000 đồng VN.

– Phan Liễu            3/14 : 162 USD + 550.000 đồng VN.

 * Trong nước :                              22.875.000 đồng VN.

Tổng thu :                                                                 38.206.000 đ

Chi  :     Chi phí vận động                              :       1.880.000 đ.

                       – Trùng tu Khu Mộ Tiền Hiền    :        1.850.000 đ.

                       – Quét vôi Nhà Thờ                    :          350.000 đ.

                       – Làm bao lơn trước Tiền Đường                          :      850.000 đ.

                       – Xây dựng Nhà Từ                    :      38.206.000 đ.

Tổng Chi         :                                                43.136.000 đ.

Các đóng góp khác không nằm trong phần thu để xây dựng Nhà Từ :

– Bà con Tộc Phan hiện đang sinh sống tại Duy Hòa, Duy Xuyên, Quảng Nam cung cấp toàn bộ số gỗ để làm đòn tay trị gía 1.000.000 đồng.

– Phan Nhẩn 4/14, Phan Minh Tâm 4/14, Phan thị Xin ( tức Tấn ): 4 giường bố Liên Xô, 4 cái mùng, 2 quạt đứng, 2 phích đựng nước sôi loại 2,5l của Trung Quốc, 2 bộ ấm tách trà của Trung Quốc.

– Phan Nam 2/15 : 1 bộ xa lông bằng gõ, 1 giường nằm bằng gỗ.

– Phan On  5/14  : Công giám sát thi công 500.000 đ.

– Phan Thị Thục Anh 4/15 : Công thiết kế  900.000 đ. 

Sau khi xây dựng Nhà Từ , Phan Bá Phụng gởi về 500.000 đồng VN, Phan Liễu ở Canada gởi về 481 USD để  Tộc thanh toán số tiền còn thiếu và trả lương cho người ở từ.

Danh sách con cháu Nội Ngoại đã đóng góp xây dựng Tiền Đường và Nhà Từ được lưu giữ trong ” Sổ vàng “ của Tộc, hiện do Ông Phan Long 2/14 cất giữ và trong bảng danh sách lưu tại văn phòng của tộc đặt tại nhà từ. ( Vì danh sách quá dài nên chúng tôi không đăng vào tập Kỷ yếu này như ý định lúc ban đầu. Rất mong quí thân tộc thông cảm cho.)

Trong khi Tộc đang tiến hành xây dựng Nhà Từ, anh Phan  Liễu ở Canada, ngoài việc đóng góp xây dựng, anh còn đề nghị tộc tìm một người để trông coi nhà thơ, hằng ngày chăm lo việc thắp hương cho ông bà nơi thờ phụng, quét dọn, trồng hoa và cây cảnh. Anh nhận phụ cấp cho nguời ở từ mỗi tháng 10 kg gạo, liên tục trong 5 năm liền.. Được sự tán trợ của Phan Liễu, tộc mạnh dạn tìm người. Ông Phan Tre 4/13 được Tộc chọn để giao công việc này. Gia đình ông Tre gồm vợ và một con trai trên 20 tuổi đã dọn đến ở vào đầu tháng 6 năm 1998. Nhà thờ, vườn tược từ đây được quét dọn sạch sẽ. Nhân chuyến về thăm quê hương, nhận thấy người ở từ đã thực hiện tốt công việc được tộc giao phó, ông Liễu đã tăng phụ cấp gạo từ 10 kg lên 18kg. Đêm đêm, những đốm lửa lòe sáng, mùi thơm hương trầm ngào ngạt bốc lên từ các lư hương đã xua tan cái không khí lạnh lẽo, u trầm ở nơi thờ tự. Quang cảnh nhà thờ trông quang đãng và vui tươi hẳn lên.

Có được cơ ngơi thờ phụng huy hoàng và đẹp đẽ như ngày nay là do lòng nhiệt thành, thiết tha tưởng nhớ đến tổ tiên của con cháu nội, ngoại xa gần trong cũng như ngoài nước đồng tâm hiệp lực mà nên. Tộc đánh giá cao tinh thần vì dòng họ, và những công sức của con cháu đã đóng góp, kẻ ít người nhiều, người có công góp công, người có của góp của. Tuy nhiên ,”… Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, trong tộc họ ta  còn nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, không đóng góp được nhiều cho việc xây dựng tộc họ cũng đừng vì thế làm buồn mà xa lánh tộc họ … “. ( Trích diễn văn do ông Phan Long đọc trong dịp Lễ khánh thành Tiền đường năm 1997 Đinh Sửu).

 Phải nhận chân rằng, nếu không có những tình cảm nồng nàn và sâu đậm của con cháu ở hải ngoại đóng góp tích cực từ tinh thần đến vật chất thì tộc ta chưa xây dựng được ngôi Tiền đường và Nhà Từ sớm như hiện nay. Tộc đặc biệt biểu dương các thân tộc hiện đang sinh sống ở nước ngoài, dù xa quê hương, xa nơi chôn nhau cắt rốn, sống nơi nghìn trùng xa cách nhưng lòng vẫn luôn nhớ về cội nguồn của dòng tộc như:

-Bà Phan thị Kế tức bà trợ Bậc 2/13, tuy tuổi đã ngoài 80 nhưng bất chấp sự già nua của tuổi tác đã ra sức vận động con cháu đóng góp xây dựng Tiền Đường và Nhà Từ.

– Phan Bá Phụng 2/15 đã tích cực vận động bà con,luôn luôn đi đầu và dẫn đầu trong mọi đóng góp xây dựng. Ngoài ra,cùng với bà con trong nuớc, anh còn gởi tiền cứu trợ bà con trong tộc gặp khó khăn sau cơn lũ lụt tháng 10 Mậu Dần. Một nghĩa cử cao đẹp thật đáng trân trọng và đề cao.

– Phan Nhi 3/14, lúc còn sống, anh rất hăng hái hoạt động xây dựng tộc họ, đóng góp xây dựng nhà thờ tộc ở Bảo An và cả ở Bình triệu nữa.

– Phan Liễu 3/14, em ruột Phan Nhi. Cũng như Phan Nhi, Phan Liễu đã hăng hái tham gia mọi công việc của tộc ở Bình Triệu. Ngoài việc đóng góp xây dựng Tiền Đường và Nhà Từ , anh còn nhận trợ cấp cho người ở từ nhà thờ ở Bảo An trong 5 năm liền. Anh luôn luôn khuyên nhủ con cháu của anh không được quên cội, quên nguồn, phải nhiệt tâm làm tròn bổn phận hiếu đạo đối với tổ tiên, không chỉ ngày nay mà mãi mãi về sau.

– Phan Mạnh Lương 2/14, không những đã đóng góp xây dựng nhà thờ, quỹ Khuyến học của tộc mà còn đóng góp  rất nhiều ý kiến quí giá về việc tổ chức và phát triễn Chi Hội Khuyến Học của Tộc. Anh là người rất nhiệt tâm và tha thiết với việc học hành của con cháu trong tộc ở nước nhà.

– Ngoài ra còn có nhiều thân tộc khác nữa như Phan Phong 2/16, Phan Dư Bách 4/14, Phan Giảng 5/14 … và một số con cháu ở hải ngoại tham gia đóng góp xây dựng Tiền Đường và Nhà Từ.

Hiện nay bà con ở xa về thăm quê hương, viếng thăm Nhà Thờ đã có chỗ nghỉ ngơi thoải mái.

MỘ NGÀI TIỀN HIỀN VÀ CÁC VỊ THẾ TỔ 5 PHÁI

Mộ Ngài Tiền Hiền nằm trong khu đất cùng với mộ 2 Ngài Tiền Hiền Nguyễn, Ngô tại Bảo an. Năm 1977 làng Bảo An được qui hoạch lại. Tất cả mồ mã được dời qua núi Thọ Sơn, xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam –  nơi đây trồng cây bạc hà nên mọi người thường quen gọi là Nghĩa trang Bạc Hà. Để cho việc chọn đất được công bằng, chính quyền đã phân chia khu đất ra từng lô và đánh số thứ tự 1, 2, 3 … rồi tiến hành bốc thăm. Trong các khu đất đã phân lô, khu số 1 là khu đất nằm ở trên đầu nghĩa trang, cao ráo, riêng biệt, quang đảng, rộng rãi nhất, nhìn toàn bộ khu nghĩa trang nằm trải dài phía bên dưới. Tộc nào cũng ước mong bốc được khu đất nầy. Ông Phan Kinh 3/13 và một số bà con trong tộc ta tham dự cuộc bốc thăm. Họ đã thầm khấn nguyện, vang vái tổ tiên anh linh hộ trì cho họ bốc được lô số 1 ấy, tức là Khu mộ Tiền Hiền hiện nay. Kết quả bốc thăm thât quá bất ngờ: Họ đã đạt được điều cầu nguyện. Không sao tả xiếc nỗi vui mừng trong lòng các thân tộc ở Bảo An lúc bấy giờ!

Chấp hành chủ trương của chính quyền địa phương, các thân tộc đang sinh sống tại Bảo An đã cùng nhau lo việc di dời mộ ông bà Ngài Sơ Tổ, Ngài Tổ Bá, ông bà Ngài Tiền Hiền và ông bà các Ngài Thế Tổ 5 Phái đến nghĩa trang Duy Châu. Các ông Phan Ngọc Cầu (tức ông Biện Khanh) 5/12, Phan Đồng 5/12, Phan Kinh 3/13, Phan Tri 5/13, Phan Huỳnh 5/13, Phan Tài 5/13, Phan Lượng 1/14, Phan On 5/14 và một số đông bà con khác trong Tộc đứng ra lo liệu toàn bộ công việc. Trong tình hình  kinh tế  khó khăn của đất nước sau ngày giải phóng Miền Nam năm 1975, tất cả các vị nói trên vẫn không quên chăm lo mồ mã ông bà. Họ đã đứng ra lo liệu mọi công việc : đóng quách, hốt hài cốt, khâm liệm và khiên qua Duy Châu cải táng. 15 ngôi mộ được cải táng trên khu đất đã bốc thăm. Ban đầu, các ngôi mộ chỉ đắp bằng đất.

Năm 1989, cùng lúc với xây dựng Nhà Thờ Tộc, từng ngôi mộ được xây lại bằng gạch và ciment, dựng bia và xây tường gạch bao bọc chung quanh khu mộ. Trước khu mộ có xây cổng ra vào.

Muốn đến khu mộ Tiền Hiền ta có thể đi bằng hai ngã :

– Từ Đà Nẵng đi theo Quốc lộ 1A đến ngã Tư Nam Phước, rẽ phải theo đường huyện lộ, qua khỏi đường rây xe lửa khoảng 3km, nhìn bên trái có bảng ” Đường vào đập Vĩnh Trinh “, ( khoảng giữa 2 cột cây số 13 và 14 ) đi thẳng theo đường đất độ 1km là đến khu mộ Tiền hiền.

– Từ đầu làng Baỏ An đi băng qua một bãi cát rộng, qua một nhánh sông con của sông Thu Bồn, tức là Sông Trước. Vào mùa khô, sông cạn mới đi được. Qua khỏi sông, ta sẽ gặp con đường từ Nam Phước lên La Tháp. Rẽ trái, đi ngược về phía Nam Phước khoảng 2km, gặp con đường đất đi vào đập Vĩnh Trinh nằm bên phải.

Hằng năm con cháu các nơi về dự Lễ Thanh Minh đều đến khu mộ dâng hương Tổ tiên. Nhìn khu mộ nằm trang nghiêm trên một khu đất cao ráo, sạch sẽ và khoáng đảng, mọi người vẫn thầm quí trọng công lao các vị nói trên đã không quản ngại khó khăn, vất vả để chu toàn công việc di dời phần mộ Tổ tiên.

TÔN TẠO VÀ NÂNG CẤP KHU MỘ TIỀN HIỀN [1]

Trong thời kỳ kinh tế còn nhiều khó khăn, các ngôi mộ được xây dựng tạm thời, chưa được khang trang theo ý nguyện của con cháu trong Tộc. Qua 26 năm, từ năm 1977 đến 2003, các ngôi mộ đã xuống cấp : sụt lở, nứt nẻ … mặc dù hằng năm vẫn quét vôi, tu bổ. Thể theo ý nguyện của bà con, HĐGT nhất trí khởi công tôn tạo và nâng cấp khu mộ. Qua các buổi họp HĐGT mở rộng ngày 27.12.2002 tại nhà thờ Bảo An gồm có các Ông :

Tộc trưởng Phan Tuấn  Đời 15 Phái Nhất , Đại diện Phái Nhất: Phan Lượng 14/1, Phái Nhì: Phan Dũng15/2 , Phái Ba: Phan Chín 14/3 , Phái Tư : Phan Văn Định 15/4, Phái Năm: Phan Tiết 14/5. Phan Tài 13/5, Phan On 14/5. Từ Đà Nẵng về tham dự gồm có các ông : Phan Sô 13/4, Phan Long 14/2, Phan Đức Mỹ 14/3, Phan Hường 14/4, Phan Văn Thê 14/4, Phan Văn Quang 15/3, Phan Nam 15/2 , Phan Nhật Trung 15/2. Hội nghị nhất trí lập Ban Vận động tài chánh để Xây dựng  các công trình của tộc, ưu tiên một là Khu Mộ Tiền Hiền:

BAN VẬN ĐỘNG

ü Trưởng Ban               : Phan Long 2/14

ü Phó Ban & Thủ Quỹ : Phan Nam

ü Thư ký & Kế toán     : Phan Văn Thê

ü Kiểm tra, đôn đốc     : Phan Sô, Phan Tài, Phan Đức Mỹ

– Tại Bảo An : Phan Tài, Phan On, Phan Chín, Phan Tín.

– Tại Đà Nẵng : Phan Sô, Phan Long, Phan Đức Mỹ, Phan Hường, Phan Văn Thê, Phan Nam, Phan Nhật Trung.

– Tại Tp. HCM : Phan Nhật Sanh, Phan Xuân Huy, Phan Đức Bình, Phan Chính, Phan Thóa, PhanQuang Thanh, Phan Long, Phan Văn Mai.

Tại Đà Lạt : Phan Cước, Phan Long Phùng, Phan Việt, Phan Củng, Phan Luông.

Tại Hà Nội : Phan Vịnh

– Tại Hải ngoại : Phan Mạnh Lương CA/USA, Phan Bá Phụng CA/USA, Phan Như Liểu CANADA

Cuộc họp ngày 03.5.2003 tại nhà ông Phan Long, đã bầu ra Ban xây dựng và bàn về các công việc cụ thể phải làm như sau:

Thiết kế từng hạng mục :

– Hạng mục 1 : Tăng nền móng lên cao 0,5m  so với thực tế. Chiều cao tường 2 bên hông 0,7m  kể từ móng lên, tức cao 2,2m so với côte thiên nhiên.

– Hạng mục 2 : Khu mộ Tiền Hiền gồm 15 ngôi mộ. Từ cổng đi vào, dãy đầu tiên là 5 ngôi mộ của 5 bà Tổ Phái. Dãy thứ hai là 5 ngôi mộ của 5 ông Tổ Phái. Dãy thứ ba là 3 ngôi mộ của Ông Bà Tiền Hiền và Ông Tổ Bá. Dãy thứ tư là 2 ngôi mộ của Ông Bà Sơ Tổ Phan Nhơn Huyện. Năm ngôi mộ dãy thứ 3 và thứ 4 xây thêm có kích thước dài 2,3m, rộng 1m, cao 1,10m. Mười ngôi mộ ở dãy thứ thứ nhất và thứ hai xây thêm có kích thước 2,3m x 0,9m x 0,8m. Tất cả đều ốp đá granic nhân tạo.

Hạng muc 3 : Thay tất cả các bia mộ xi măng hiện có bằng bia đá Non Nước, khắc chữ cả hai mặt. Mặt trước bằng chữ  Hán, mặt sau bằng tiếng Việt ghi rõ tên thật. Nội dung bảng chữ Hán do Phan Đức Mỹ biên soạn. Nội dung bảng tiếng Việt do Phan Văn Thê biên soạn. Cả hai lên bản thảo gởi các nơi góp ý. HĐGT mở rộng quyết định thực hiện sau khi chính sửa.  

– Hạng mục 4 : Xây lại trụ cổng 0,6m x 0,6m cao 4,68m bằng  bê tông cốt sắt, ngoài xây gạch. Bảng cổng bê tông cốt thép rông 0,6m gối lên hai đầu trụ, ghi 9 chữ :

 

KHU MỘ TIỀN HIỀN TỘC PHAN

L A N G   B A O   A N

 

 

 

 

 

– Hạng mục 5 : Nhà Tưởng Niệm hình lục giác bằng bê tông cốt thép. Bên trong có khối lăng trụ hình lục giác, ốp 6 tấm bia bằng đá ghi công đức của dòng tộc theo thứ tự từ mặt chính diện đi theo chiều kim đồng hồ :

Mặt thứ nhất ( chính diện ): Nguồn gốc tộc Phan – Quan Tước & Các nhà khoa bảng thời Hán học ( 1807 – 1919 ) – Chí sĩ Cách mạng Phan Thành Tài – Nhà Trí thức Cách mạng Phan Thanh, Phan Bôi – Học giả, Nhà Văn, Nhà Báo Phan Khôi – Bà Mẹ VN anh hùng & Các Liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. ( Do Phan Đức Mỹ & Phan On sưu tầm biên soạn ).

Ông Phan Văn Thê soạn thảo nội dung 6 mặt bia đá, lên bản thảo gởi các nơi góp ý. HĐGTmở rộng họp quyết định theo nội dung đã chỉnh sửa.

ü Vẽ thiết kế toàn bộ Khu mộ và dự toán công trình do Kỹ sư XD Phan Nhật Trung 15/2  phụ trách.

ü Vẽ thiết kế và dự toán Nhà Tưởng Niệm do Kỹ sư XD Phan Thị Thục Anh 15/4  phụ trách.

Các hạng mục khác thực hiện theo dự án đã đề ra.

Nội dung 2 câu liễn ở trụ cổng và 2 trụ sau ( hậu đầu ), hai ông Phan Sô và Phan Đức Mỹ chịu trách nhiệm soạn thảo, lên bản thảo gởi bà con trong tộc góp ý. Nhiều câu liễn của các thân tộc từ các nơi gởi về, HĐGT mở rộng đã nhất trí chọn 2 câu liễn sau đây :

Hai câu liễn ở trụ cỗng trước mang nội dung cảnh quan nơi khu mộ:

Thọ sơn linh địa quang minh cảnh

Thu thủy bích giang diễm lục ba.

Ông Phan Văn Thê dịch :

” Núi Thọ đất thiêng trời sáng tỏ

Sông Thu nước biếc sóng xanh ngời.”

 Hai câu liễn sau ( hậu đầu ) nói lên công đức của tổ tiên:

Phát huy tài đức vinh Tông Tộc

Bảo trọng tinh thần hiễn Tử Tôn.

Ông Phan Sô dịch :

” Phát huy tài đức tông môn càng rạng rỡ,

Gìn gữi tinh thần con cháu được vẻ vang “

Sau khi dự toán, lên bản chiết tính từng hạng mục, Ban xây dựng gọi thầu và ký kết hợp đồng thi công.

ü Chỉ huy công trình : Phan Nam, Phan Long,  Phan Văn Thê

ü Giám sát kỹ thuật : Kỹ sư XD Phan Nhật Trung.

ü Giám sát thi công : Phan Tài, Phan On, Phan Chín

Hưởng ứng thư kêu gọi của Tộc ngày 27.12.2002, con cháu trong tộc, kẻ ít người nhiều, đã tự nguyện đóng góp tại địa phương nơi mình đang cư trú hoặc tại Đà Nẵng hay Bảo An ( Tính đến ngày 30.8.2003 ):

–  Đà Nẵng :                              70.040.000 đồng

– Tp. HCM :  ( Do Phan Chính  chuyển  về  )

Lần 1 :                            25.000.000 đồng

Lần 2 :                            10.000.000 đồng

– Tại Bảo An:                              1.930.000 đồng

– Tại Lễ Khánh thành :               4.780.000 đồng

– Hà Nội & Các nơi khác:                   14.040.000 đồng             

                                                          ______________

–  Tổng Thu :                             125.790.000 đồng 

–  Chi           :   –  Làm Mộ      :  111.698.000 đồng

                      –  Sửa Nhà bếp :   20.332.000 đồng

                                                        ________________

– Tổng Chi   :                            132.030.000 đồng

Công trình được khởi công ngày 15.5.2003 đến ngày 17.8.2003 thì hoàn thành. Lễ khánh thành được tổ chức trọng thể, khách mời tham dự gồm có chính quyền các cấp, các đoàn thể địa phương, các tộc bạn và con cháu từ khắp nơi, trong cũng như ngoài nước về tham dự trong niềm hân hoan vô hạn.

LIỄN ĐỐI TREO TRONG NHÀ THỜ

 

Trước năm 1945, trong Nhà thờ tộc Phan có nhiều câu liễn đối viết bằng chữ Hán. Chữ khắc trên nền gỗ quý thiếp vàng. Nhưng qua chiến tranh, nhà thờ bị tàn phá hoàn toàn, các câu liễn đối cũng không còn nữa.

Sau khi hòa bình vãn hồi, Nhà thờ Tộc được xây dựng lại. Tưởng nhớ công đức Tổ tiên, các câu liễn đối đều được phục chế. Bản gốc không còn, các vị cao niên cao thế trong tộc am hiểu chữ Hán cũng chẳng còn mấy người, lại sống tãn mạn khắp nơi và chẳng có tài liệu nào ghi chép lại nguyên gốc. May thay, tộc ta có ông Cửu Điểu 3/12 là người có nhiệt tâm, nhiệt tình với tộc họ đã ghi chép lại một số các câu liễn đối và lưu giữ một cách cẩn thận, dẫu cho cuộc sống rày đây mai đó qua suốt những năm dài chiến tranh.

Tại Nhà Thờ Phan Cả ở Bảo An hiện nay có một số liễn mang nội dung:

– Ngợi ca sự nghiệp của Ngài Thủy Tổ khai sinh ra dòng họ.

– Nhắc nhở con cháu luôn nhớ công đức cao dày của Tổ tiên.

Liễn có ba loại: – Khảm chữ bằng mảnh sành sứ trên nền vôi.

               – Khắc chữ trên nền gỗ quí và thiếp vàng.

               – Khắc trên đá hoa Non Nước.      

Chúng tôi chép lại toàn bộ các câu liễn đối và chữ trên các bức hoành hiện đang treo tại Nhà Thờ Phan Cả Bảo An.

– Phụng sao bằng chữ Hán và phiên âm tiếng Việt : Ông Phan Đức Mỹ 3/14.

– Thủ bút bằng chữ Hán trong tập sách này : Ông Phan Đức Mỹ.

– Để hiểu rõ ý nghĩa của những câu liễn chữ Hán, chúng tôi có gởi thư cho một số thân tộc biết chữ Hán ở Tp.HCM, Đà Nẵng, Bảo An … đề nghị tham gia dịch – theo thể đối – nhưng chỉ nhận đuợc những lời dịch của các ông: Phan Hý 3/13, Phan Sô 4/13 và Phan Đức Mỹ. Chúng tôi không nhận xét hay dỡ và cũng không được phép chọn lựa, nên xin ghi lại nguyên văn những câu dịch của 3 dịch giả nói trên.

a/ Liễn trụ ngõ : Cẩn mảnh sành sứ trên nền vôi.

– Câu liển mặt chánh diện ( Mặt trước ) :

Tác giả : Cử nhân Tri Phủ Phan Đức Thạnh 3/12.

Phiên Âm :

            ” Tố Nam Ao Giản tố Bắc Vinh Dương ba trụ tùng lai danh tứ hải

    Như thạch Điện Bàn như qua Diên Phước hồng cơ chung cổ ngật trung châu ”

Lời dịch 1 : (Phan Hý) :

* Trông Nam Ao Giản trông Bắc Vinh Dương áo mão từ đây vang bốn biển

   Như đá Điện Bàn như dưa Diên Phước nền cao bền vững dậy trung châu.

Lời dịch 2 : ( Phan Sô)

* Trời Nam Ao Giản đất bắc Vinh Dương dòng dõi nối đời từ đây vang bốn biển

   Đá cứng Điện Bàn, dưa dài Diên Phước cơ đồ bền vững muôn thưở ngất trung Châu.

Lời dịch 3 : ( Phan Đức Mỹ)

* Nhớ quê Ao Giản nhớ gốc Vinh Dương con cháu từ đây vang bốn biển.

   Như đá Điện Bàn như dưa Diên Phước nền cao bền vững giữa trung châu.

– Câu liễn mặt giao diện ( mặt hông bên trong trụ ngõ ) :

Tác giả : Tú tài Phan Khôi 2/13.

Phiên âm : ” Long hữu nghị tác dân sơ tại nhân nhĩ mục.

          Phục tiên trù thực cựu đức phổ ngã đông tây “

Lời dịch 1 : (Phan Hý)

Kết bạn bè dấy lập dân cùng người tai mắt

Về nếp xưa trồng đức cũ mở lối đông tây.

Lời dịch 2 : (Phan Đức Mỹ)

Giàu tình bạn nặng nghĩa dân là người trí tuệ

Nhớ chí xưa trồng ân đức mở rộng đông tây.

Lời dịch 3 : (Phan Sô)

Kết bằng hữu làm người dân đầu ai ai đều nghe thấy

Nối nghiệp xưa vun trồng nhân đức chốn chốn được thấm nhuần.

Trước năm 1945, hai câu liễn này viết bằng chữ Hán, được cẩn bằng mảnh sành sứ trên mặt trụ vôi. Năm 1989 khi tái lập nhà thờ, 2 câu liễn này được chuyển tự sang quốc ngữ và hoán vị nhau : câu ở chánh diện chuyển sang giao diện và ngược lại.

Để không hiểu sai ý nghĩa của câu liễn, vì chữ Hán có nhiều chữ đồng âm nhưng dị nghĩa. Ví dụ như ” thực cựu đức “, có người viết chữ thực là ăn (        ) thay vì thực là trồng (         ). Nay nhiều thân tộc đề nghị nên khôi phục lại chữ Hán, vì chữ Hán có ưu điểm là chữ nào nghĩa ấy không thể hiểu khác được.

 Đề nghị này đã được thực hiện và hoàn thành vào lễ Thanh Minh năm Kỷ Mão 1999. Mỗi chữ được khắc trên một miếng đá hoa Non Nước và cẩn vào trụ ngõ, đúng vào vị trí cũ trước năm 1945.

( Xem hình 2 )

b/ Liễn treo ở Tiền Đường : Cẩn mảnh sành sứ vào cột Tiền Đường.

* Câu 1 :

– Tác giả : Chưa rõ . Câu liễn này nguyên của Nhà Thờ Chi Phái Phan văn ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nguyên tác như sau :

” Thế phổ thái điền truyền Bắc địa

   Tướng môn lệnh trụ chấn Nam thiên

 Phiên âm và lời dịch: Ông Phan Tương, tác giả cuốn sách ” Họ Phan trong cộng đồng dân tộc”

” Dòng dõi Thái Điền truyền đất Bắc

   Tướng môn vũ  trụ dậy trời Nam ”

Để phù hợp với không gian và thời gian của dòng tộc, Tộc nhất trí đổi chữ Chấn (          ) ở vế 2 thành chữ Tấn (          ) và chữ Trụ viết (          ) thay vì chữ Trụ viết (            ). Vì chữ Trụ (          ) thể hiện ” lệnh vua cửa tướng đến trời Nam “.

Câu liễn hiện treo ở Tiền đường tộc Phan Bảo An  hiện nay là :

” Thế phổ Thái Điền truyền Bắc địa

   Tướng môn lệnh trụ tấn  Nam thiên ”   

Lời dich 1: (Của ông Phan Hý )

* Nối tổ ruộng vườn truyền đất Bắc.

   Theo vua áo mão tiến trời  Nam.

Lời dịch 2 : (của ông Phan Đức Mỹ)

* Ân lộc thái điền truyền đất Bắc.

    Lệnh vua cửa tướng đến trời Nam.

Lời dịch 3 : (Của ông Phan Sô)

* Dòng họ thái điền truyền đất Bắc.

   Lệnh ban cửa tướng tiến trời Nam.

* Câu 2 : ( Cẩn mảnh sành sứ vào cột Tiền Đường )

Tác giả :

Tác giả : Phan Đức Mỹ.

Phiên âm :

          * Lịch đợi văn chương kim tự cổ

             Vinh dương thế hệ Bắc như Nam.

Lời dịch 1 : (Của ông Phan Hý)

* Văn chương đời trải nay như trước

             Thế hệ tộc truyền Bắc lẫn Nam.

Lời dịch 2 và 3 : (Của ông Phan Sô).

          * Nối nghiệp văn chương nay như trước

   Vinh dương phân hệ Bắc mà Nam. 

* Văn chương nết đất bao đời trải

             Nam Bắc Vinh dương vốn một dòng.

c/ Liễn treo ở Hậu Tẩm :

* Câu 1 : (Treo hai bên khảm thờ Ngài Tiền Hiền). Chữ khắc trên nền gỗ quý thiếp vàng.

Phiên âm :

          ” Bắc địa tùng vương tam kiết hữu

              Nam thiên lập xã tác dân sơ “.

Lời dịch : (Của ông Phan Sô).

          * Đất Bắc theo vua nồng nghĩa bạn.

             Trời Nam lập xã ấy dân đầu.

* Câu 2 : Treo ở Chánh đường. Chữ khắc trên nền gỗ quý thiếp vàng.

Tác giả : Chưa rõ. Câu liễn do hậu duệ Phái 1 phụng cúng.

Phiên âm : “Tôn tổ thiên niên công đức kỳ lai viễn hỷ

                  Hậu nhân nhất mạch tử tôn vật thế dẫn chi.”

Lời dịch 1: ( Của ông Phan Hý ):

* Công đức cha ông nghìn năm lưu truyền mãi mãi.       

   Nhơn từ cháu con một mạch nối tiếp đời đời.

Lời dịch 2 : (của ông Phan Sô):

          * Công đức tổ tông nghìn năm vang xa mãi.

            Nhân hậu một lòng con cháu nhớ đừng sai.

* Câu 3 : Treo ở chánh đường. Chữ khắc trên nền gỗ quý thiếp vàng.

Tác giả : Chưa rõ. Câu liễn do hậu duệ Phái 2 phụng cúng.

Phiên âm : ” Công đức đại nan danh nam thổ khai cơ thùy hậu duệ

                   Vân nhưng hoài sơ tự tây lưu phân thủy bổn đồng nguyên.

Lời dịch 1 : ( Của ông Phan Hý ):

* Công đức lớn khôn nêu đất Nam mở nền lưu hậu duệ

   Cháu con nay nhìn lại dòng Tây rẽ lối vốn đồng nguyên.

Lời dịch 2 : ( Của ông Phan Sô ):

                   * Công đức lớn khó nêu tên đất nam dựng nghiệp lưu con cháu

                     Hậu thế muôn đời nhớ cội dòng tây chia nước vốn cùng nguồn.

* Câu 4 : Treo ở Chánh đường. Chữ khắc trên nền gỗ quý thiếp vàng.

Tác giả : Cử nhân Phan đức Thạnh 3/12.

    Câu liễn do hậu duệ Phái Ba phụng cúng.

Phiên âm :

                   * Nam thổ trùng lai vị quốc vị dân công mạc đại.

                      Phong sào triệu ứng nhi tôn nhi tử đức miên trường.

 Lời dịch 1 : ( Của ông Phan Hý ):

* Trở lại đất nam vì nưóc vì dân công quá lớn

   Ong xây điềm tốt này con này cháu đức lâu dài.

Lời dich 2 : ( Của ông Phan Sô ) :

          * Đất nam trở về lo cho dân nước công to lớn.

             Điềm lành ong báo lưu để cháu con đức lâu dài.

* Câu 5 : Treo ở Chánh đường. Chữ khắc trên nền gỗ quý thiếp vàng.

Tác giả : Chưa rõ . Câu liễn do hậu duệ Phái Tư phụng cúng.

Phiên âm :

          * Nguyên viễn lưu trường phái mạch giang đầu thiên tải hạ

             Căn thâm diệp mậu quế lan giai hạ tứ thời xuân.

Lời dịch 1 : ( Của ông Phan Hý ) :

   * Nguồn xưa dòng chảy mạch nước đầu sông nghìn năm nồng khí hạ

      Lá thắm rễ bền quế lan tiếp cội bốn tiết ấm trời xuân.

Lời dịch 2 : ( Của ông Phan Sô ):

* Nguồn xưa tuôn xuống nhánh mạch đầu sông nghìn năm xuôi dòng chảy

   Lá tốt rễ sâu lan quế trước thềm bốn tiết đậm màu xanh.

Chữ Tải hạ 😦                       ) viết theo liễn phục chế hiện có ở Nhà thờ.

Ông Hý dịch chữ Hạ (           )  là mùa Hạ theo chữ sao trong Phổ hệ Phan Cả. Ông Sô dịch chữ Hạ (          ) là dưới theo liễn phục chế ở nhà thờ. Chữ Thiên tải hạ (                           ) có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tôn trọng chữ của câu liễn phục chế, chúng tôi viết đúng Hạ là dưới. Chữ  Giai hạ (                    ) ở vế 2, có nghĩa là đều khắp. Ông Sô đề nghị sửa lại chữ (                     ) có nghĩa là dưới thềm. Viết  giai hạ như thế này mới đúng nghĩa và đối được với Giang đầu ở vế 1.      

* Câu 6 : Treo ở Chánh đường. Chữ khắc trên nền gỗ quý thiếp vàng.

Tác giả : Chưa rõ . Câu liễn do hậu duệ Phái Năm phụng cúng.

Phiên âm : Di khuyết tôn mưu đế tạo phi cơ thùy bất bạt.

       Khắc thành tiên chí quang huy thế đức vĩnh lưu phương.

Lời dịch 1 : ( Của ông Phan Hý ):

* Báu để cháu con nối dõi nền móng tốt tươi đâu dám đổi

   Chí xưa dòng giống rạng ngời đức đời bền vững mãi thơm danh.

– đọc là đê, có nghĩa : Ràng buộc.

– đọc là đề, có nghĩa : Nâng đỡ, kéo lên để cùng tiến.

* Chữ đề hợp nghĩa với câu liễn hơn.

Lời dịch 2 : ( Của ông Phan Sô )

* Mưu để cháu con, đắp xây nghiệp lớn nghìn sau không chuyển đổi

   Đạt thành chí cả công đức sáng ngời muôn thưở mãi thơm danh.

* Câu 7 : Treo ở phía hữu Chánh Đường.

Câu liễn  được khắc trên một phiến đá cẩm thạch . Giữa hai câu liễn là một bức tranh, chạm cảnh núi Hồng Lĩnh, đồng ruộng và Nhà Thờ. Toàn cảnh biểu trưng nơi phát tích của Tổ tiên hai Phái Phan Xá và Bảo An.

Câu liễn của Tộc Phan Phan Xá , Xuân Mỹ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh phụng cúng trong dịp Lễ Khánh Thành Tiền Đường – Thanh Minh năm Đinh Sửu 1997. Đoàn gồm 4 người do ông Phan Tấn làm trưởng đoàn từ Hà Tĩnh vào dự Lễ và trao câu liễn .

Tàc giả : Phái Tộc Phan Phan Xá gởi vào 3 câu liễn, đề nghị Phái tộc Phan Bảo An xem góp ý và hồi âm để tộc Phan Phan Xá tiến hành khắc. Sau khi tham khảo ý kiến các thân tộc cao niên, Tộc Phan Bảo An chọn câu 3 như sau :

“Phước lưu Hồng Lĩnh di tư niệm

  Đức diễn Thu giang  tưởng vọng hoài.”

Chữ Đức diễn thay cho chữ Ân chí theo nguyên tác trong câu liễn do tộc Phan Phan Xá gởi vào.

Nhưng vì đường sá xa xôi, liên lạc chậm trễ nên tộc Phan Phan Xá khắc câu:

” Bắc vọng Hồng Sơn di tưởng niệm

  Nam chim Thu thủy ngưỡng tư hoài “.

Lời dịch 1 : ( Của ông Phan Hý ):

          * Trông Bắc Hồng Sơn lòng tưởng niệm

             Nhìn Nam Thu thủy chạnh tơ vương.

Lời dịch 2 :  ( Của ông Phan Sô ):

          * Trông về Bắc, non Hồng Lĩnh khơi niềm tưởng nhớ

             Hướng về Nam, nước Thu Bồn gợi nỗi cảm hoài.

* Câu 8 : Treo ở  phía tả Chánh đường.

Tác giả : Phan Đức Mỹ

 Câu liễn được khắc, chạm trổ hoa văn trên bảng đá Non Nước, có biểu tượng lư hương và 5 cây hương đang tỏa khói; của Bà con tộc Phan Bản An đang sinh sống tại Tp.HCM phụng cúng. Ông Phan văn Thóa 2/14 lo nội dung câu liễn, xin ý kiến tộc và xuất kinh phí. ( Trích trong tập Liễn Từ Đường Phan Tộc của ông Phan Đức Mỹ ).

Phiên âm : ” Bảo trọng tiên ân niên nguyệt hạo

                    An bình chính cuộc cổ kim huơng “.

Lời dịch 1 : ( Của ông Phan Hy ):

* Gìn giữ ơn xưa ngày tiếp tháng

   Lừng danh chánh cuộc trước cùng sau.

Lời dịch 2 : ( Của ông Phan Sô ):

* Ơn Tổ gìn lòng tháng năm rực sáng

   Chánh cuộc yên bình nay trước ngát hương.

d/ Các bức hoành :

Treo tại Tiền đường. Chữ khắc trên bảng gỗ quý hình chữ nhật, khung gỗ chung quanh có chạm trổ hoa văn, chữ thiếp vàng, do con cháu Nội Ngoại cư trú tại các tỉnh phía Nam phụng cúng.

 

Phiên âm     : ” Ẩm hà tư nguyên “.

          Có nghĩa là  : ” Uống nước nhớ nguồn “.

          Ngoài các câu liễn đối và các bức hoành treo tại Nhà Thờ Phan Cả ở Bảo An, còn có các câu sau đây :

          – Treo tại Từ Đường Nhà thờ tộc Phan Bảo An tại Bình Triệu Tp.HCM. Chữ khắc trên bảng gỗ quý hình chữ nhật, khung gỗ chung quanh có chạm trỗ hoa văn, chữ thiếp vàng.

Bức hoành của bổn Tộc Phan Cả Bảo An đạo hạ.

Tác giả : Phan Đức Mỹ chọn và được sự đồng ý của các vị Trưởng tộc và Đại diện 5 Phái.

Tộc cử ông Phan Sô 4/13 trực tiếp vào Nhà thờ Bình Triệu Tp.HCM, dự Lễ khánh thành Nhà thờ và trao bức hoành.

Phiên âm : ” Phan đường tư nhất thống “

Có nghĩa là : ” Thêm Nhà thờ nhưng cùng thờ một Tổ “.

– Câu liễn đối của Tộc Phan Bảo An phụng cúng tại Từ đường Tộc Phan Phan Xá xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhân ngày Giỗ Tổ 15 tháng Giêng Giáp Tuất 1994. Câu liễn được khắc trên đá Non Nước có chạm trỗ hoa văn và biểu tượng lư hương.

Tộc Phan Bảo An cử đoàn Đại diện gồm 9 thành viên đại diện cho 3 nơi : Bảo An, Tp.HCM, Đà Nẵng ra Hà Tĩnh dự Lễ Giỗ và trao câu liễn như sau :

– Tác giả : Phan Đức Mỹ viết bản thảo và tham khảo ý kiến của 3 Ông Phan Bá Ích, Phan Hý, Phan Sô trước khi trình Tộc duyệt và quyết định.

Phiên âm : ” Phan Xá Nguyên Tiền Tâm Vọng Tưởng

                   Bảo An dịch hậu chí nghiêm cung “.

Lời dịch 1&2 : ( Của ông Phan Sô ):

          * Phan Xá đầu nguồn hằng tưởng vọng

             Bảo An chung gốc mãi kính tôn.

          * Nghìn xưa Phan Xá lòng mong tưởng

             Muôn thưở Bảo An dạ kính cung.

– Câu đối ghi trong PHỔ HỆ năm 1994, phần ” Tìm về cội nguồn dòng tộc “:

Tác giả : Phan Đức Mỹ.

Phiên âm : ” Nhân sanh hoài sở bổn hoàn sanh

                    Biệt Tổ liên tư nhi phụng Tổ “.

Lời dịch 1: ( Của Phan Đức Mỹ ):

* Người sanh phải nhớ gốc mình sanh

             Chia tổ luôn chăm lo thờ phụng Tổ.

Lời dịch 2 & 3: ( Của ông Phan Sô ):

          * Là người luôn nhớ gốc mình sinh

             Chia tổ chăm lo thờ phụng Tổ.

          * Nhớ gốc mình sanh là bổn phận.

             Phụng thờ Tiên Tổ dẫu chia dòng. 

 

CON CHÁU TỘC PHAN ĐỊNH CƯ CÁC NƠI

 

Suốt theo chiều dài lịch sử của đất nước, một số con cháu tộc Phan Bảo An đã rời làng quê đến định cư khắp nơi trên đất nước Việt Nam và nước ngoài.

Trước năm 1945 vài ba trăm năm, nhiều người ra làm quan, trấn nhậm tại một địa phương và đưa gia đình vợ con đến định cư luôn ở nơi đó. Một số khác lấy vợ và ở luôn lập nghiệp nơi quê vợ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19.12.1946, con cháu trong tộc hoặc tham gia kháng chiến hoặc chạy tản cư đến các địa phương khác làm ăn sinh sống.

* Hà Nội : Năm 1954, nhiều con cháu trong tộc là cán bộ, quân đội, sinh viên học sinh tập kết ra Bắc tiếp tục công tác hay học tập rồi định cư luôn tại miền Bắc. Nhiều nhất là ở Hà Nội có khỏang 30 hộ, đa số là cán bộ, công nhân viên chức Nhà Nước, Quân đội và hưu trí.

* Bảo An : Năm 1965 chiến tranh ác liệt đã xảy ra, làng quê Bảo An cũng như khu Gò Nổi bị cày ủi biến thành một vùng đất trắng. Câu: ” Nhất Củ Chi nhì Gò Nổi ” nói lên sự tàn phá ghê gớm của bom đạn giặc và lòng yêu nưóc, dũng cảm hy sinh, kiên quyết chống lại quân thù ở nơi này. Một số ít bám trụ ở lại làng Bảo An, còn tất cả chạy tản cư lánh nạn khắp các nơi, nhiều nhất là ở Tp.HCM và Đà Nẵng.

Năm 1975, sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất và độc lập, một số trở về làng cũ sống trên mảnh đất mà Tổ tiên đã dày công xây dựng. Hiện nay ở Bảo An có 167 hộ, đa số sống về nông nghiệp và buôn bán nhỏ.

 Phần đông con cháu trong tộc đã ổn định cuộc sống nên định cư luôn tại các địa phương khác không trở về làng quê nữa như :

* Thừa Thiên Huế :

Khởi tổ là Ngài Phan văn Lẫm, Đời thứ 10, Chi Ba, Phái Tư đến đây lập nghiệp khoảng 200 năm. Nay đã có con cháu đến đời thứ 16. Ở Vân Dương có 10 hộ, ở Huế có 2 hộ. Họ đã liên hệ tìm về cội nguồn của dòng tộc. Năm 1997, con cháu chi nhánh tộc Phan ở Vân dương,Vân Thê, huyện Hương Thủy đã cử một phái đoàn về Bảo An dự Lễ Thanh Minh do ông Phan Từ làm trưởng đoàn.

Tại Hương Trà, Thừa thiên có con cháu của Ngài Phan văn Du 6/5, Đặc Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Toàn Đức Hầu. Không rõ họ có còn ở đó hay đã đi nơi khác trong lúc chiến tranh.

* Quảng Nam :

– Phan Quang Hiện, xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn : Tại đây có 3 Chi. Một trong bốn vị Tổ vô tự. Các Ngài là con của Ngài Phan đình Cao, đời thứ 4 Phái Nhì. Con cháu đã có đến đời thứ 17. Các con cháu nơi đây bắt đầu kể từ đời thứ 5. Các nhà thờ đều thờ Ngài Tổ đời Thứ 5 và theo đó kể các đời tiếp theo. Tổng số 3 Chi có trên 100 hộ.

– Phan Tịnh Tây, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc : Ngài khởi Tổ là ông Phan Thanh Long (không rõ tên thật) lên đây lập nghiệp. Đến nay đã có cháu đến đời thứ 8, có khoản 30 hộ. Ở Đà Nẵng có 2 hộ từ Đại Lãnh ra định cư nhưng con cháu về sau không biết gốc của mình có phải là tộc Phan Bảo An hay không. Ông Phan Đức Mỹ Tra cứu gia phả, thay mặt cho tộc đã xác định: ông Phan                     Phái 3 đời thứ 9 đã đến Tịnh tây, xã Đại Lãnh lập nghiệp từ đó cho đến nay.

Thanh Minh năm Đinh Hợi – 2007, một phái đoàn gồm 7 ngưòi đại diện cho con cháu tộc Phan tại Đại Lãnh về Bảo An dâng lễ tổ tiên và chính thức tìm về cội nguồn của dòng tộc. HĐGT và một số đông con cháu từ các nơi về đang dự Lễ Thanh Minh rất  vui mừng và vô cùng cảm động. Dù cuộc sống có trải qua bao biến động, bao mất mát đau thương qua hai cuộc chiến tranh giữ nước giành độc lập, con cháu tộc ta phải ly tán khắp mọi miền đất nước vẫn luôn luôn tìm về cội nguồn của mình.

– Phan Hà Nha, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc : Ngài khởi Tổ là ông Phan Ngọc Nghê (tức Viên Năm), Đời thứ 12 Phái Tư đến nơi đây lập nghiệp, đến nay con cháu đã có đến đời thứ 17. Tại Hà Nha có 8 hộ và Cầu Chìm xã Đại Quang 5 hộ. Một số hộ đã đi Đà Nẵng và Biên Hòa. Tuy số con cháu định cư tại đây không đông nhưng họ đã chung nhau góp công, góp của xây dựng được nhà thờ khang trang và đẹp đẻ. Nhà thờ toạ lạc trên Quốc lộ 14B, cách chợ Hà Nha, xã Đại Đồng khoảng 500m về phìa Tây. Người Đại diện là ông Phan Ngọc Hoàng 4/15.

– Phan Phú Hanh, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc : Các vị Tổ lên đây lập nghiệp từ đời thứ 10. Có khoảng 35 hộ, Phái Ba và Phái Năm đông người nhất, Phái Nhì ít hơn.

– Phan thôn Bình Xuân, xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình : Khởi Tổ là Ngài Phan Văn Viện, đã đến nơi đây lập nghiệp khoảng 200 năm đến nay đã  có cháu đời thứ 8. So với Phan Cả là đời thứ 17.

– Phan xã Duy Hòa, huyện Duy xuyên : Khoảng 150 năm trước đây, ông Phan Đức Cảnh, Phái 3 đời 12 có vợ tại La Tháp nay thuộc xã Duy Hòa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông ở lại luôn quê vợ sinh sống. Ông sinh hạ được 6 trai; một người vô tự, còn 5 người, nay có con cháu đến đời 16.

Hiện nay ở La Tháp có 20 hộ. Đây là một chi nhánh tộc Phan rất được trọng vọng tại Duy Hòa vì có rất nhiều Bà Mẹ VN anh hùng và liệt sĩ.

– Phan Hà Lam, huyện Thăng Bình * : Tản cư vào đây từ năm 1946 và định cư luôn tại nơi đây. Có đủ con cháu năm Phái gồm 101 hộ, 309 nhân khẩu : Phái Nhất  26 hộ – Phái Nhì 41 hộ – Phái Ba 9 hộ – Phái Tư 12 hộ – Phái Năm 13 hộ. Đa số ở Dốc Sỏi, thị trấn Hà Lam, Bình Chánh, Bình Phú, Bình Quí … Từ những năm 1957 – 1962 bà con ta sống bằng nghề dệt vải, nghề truyền thống của làng quê Bảo An. Về sau nghề dệt không còn thịnh hành nữa, bà con chuyển sang nghề làm bún, nấu rượu, nuôi heo, chạy chợ và buôn bán nhỏ. Hiện nay đa số sống về nông nghiệp, buôn bán, CB/CNVC. Dù cuộc sống có nhiều khó khăn nhưng bà con ta lúc nào cũng cố vươn lên lo nuôi con ăn học đạt kết quả tốt theo truyền thống hiếu học của dòng tộc ta từ bao đời nay. Đến nay đã có 3 cử nhân, 40 tú tài, đa số còn lại đã tốt nghiệp Cấp 2 phải nghỉ học để giúp đỡ gia đình ! Hằng năm con cháu đều qui tụ về Nhà thờ Bảo An dự các Lễ tưởng niệm công đức của tổ tiên, đóng góp xây dựng Nhà thờ và trùng tu các cơ ngơi thờ phụng tổ tiên.

Ngoài những nơi kể trên, bà con sống lẻ tẻ ở các nơi như Điện bàn, Hội An, Tam ky, Trung Phước, Phú Gia, Núi Thành, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết và rải rác ở các tỉnh Nam Bộ. Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm biết để chép vào tập Kỷ Yếu này, vì chắc chắn một vài trăm năm sau, con cháu của họ sẽ lập thành những chi nhánh Tộc Phan gốc Bảo An càng ngày càng đông đúc. Chúng tôi xin ghi lại đây những người Đại diện các nơi nói trên để tiện liên hệ sau này :

– Hội an : Ông Phan Quy 4/12 – Tam Kỳ : Ông Phan Mỹ, Phan Minh 4/14 – Quảng Ngãi : Ông Phan Quỳnh 4/13 – Qui Nhơn : Ông Phan Tám, Phan Chín 4/14 –  Nha Trang : Ông Phan Tam 2/13, Phan Nghinh 2/14.

*  Đà Nẵng :

Đa số đến định cư sau năm 1964 và một số khác từ Bắc trở về sau năm 1975, tất cả gồm 170 hộ. Đa số là cán bộ công nhân viên chức Nhà nước và sống nghề buôn bán. Họ đã lập Hội Đồng Gia Tộc, có Trưởng tộc và Đại diện 5 Phái, sinh hoạt có nề nếp và có tổ chức :

  Lập Nghĩa trang tộc Phan Bảo An / Đà Nẵng tại thôn Thanh Vinh, xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang, Quảng Nam vào năm 1978. Ban vận động gồm các ông Phan Sô 4/13, Phan Kiện 4/13, Phan Tờn 4/13, Phan Minh 4/13, Phan  Trình  2/14, Phan Đức Mỹ 3/14 . . . liên hệ với chính quyền địa phương xin đất, quyên góp tiền thuê máy cày ủi thành lập nghĩa trang. Con cháu trong tộc đang sinh sống tại Đà Nẵng, mỗi khi trong gia đình có người qua đời đều được Ban Nghĩa trang cấp đất để chôn cất tử tế, không phải mua đất bên ngoài tốn kém .

Lập Hội Khuyến Học : Nhớ về cội nguồn, không gì hơn là vun đắp cho cội nguồn ấy ngày càng tươi tốt và phát triển thêm lên.Thiết thực nhất là chăm lo cho các thế hệ tương lai của dòng tộc là những SVHS trên con đường học vấn, rèn luyện tư cách đạo đức để trở thành những công dân tốt cho xã hội ( theo Phan Mạnh Lương 2/14, trong thư góp ý xây dựng Hội Khuyến Học của tộc ). Từ nhận định đó, bà con tộc Phan Bảo An / Đà Nẵng đã quyết định thành lập Hội Khuyến Học. Mục đích của Hội là khen thưởng, động viên, trợ cấp cho các cháu Nội, Ngoại học giỏi nhưng gia đình khó khăn, cấp học bổng cho những SV thi đỗ vào các trường Đại học nhưng không đủ điều kiện theo học vì gia đình quá nghèo khó, có khả năng bỏ học. Chi Hội Khuyến Học tộc Phan Bảo An / Đà Nẵng thành lập ngày 30.3.1993. Ban đầu quỹ hội còn eo hẹp nên chỉ thực hiện mục tiêu thứ nhất là khen thưởng SVHS học giỏi và xuất sắc hằng năm vào dịp Thanh Minh.

– Niên khóa 93-94 : sồ SVHS được khen thưởng 28 cháu. Mỗi cháu nhận được một giấy khen của Tộc và 50.000 đồng.

– Niên khóa 94-95 : Số SVHS được khen thưởng 31 cháu. Trợ cấp cho hai cháu con nhà nghèo học giỏi 300.000 đ / người.

– Niên khóa 95-96 : Hoạt động của Hội ngày càng được sự ủng hộ nhiệt tình của bà con trong tộc ở Đà Nẵng và số SVHS được khen thưởng ngày càng nhiều, nên Hội đã tổ chức riêng một buổi Lễ Phát thưởng vào cuối tháng 8 Dl hằng năm tại Hội trường trường Hoàng văn Thụ, đường Trần Phú  do bà Phan Long liên hệ mượn không tốn tiền thuê, vì trưóc đây bà nguyên là Hiệu phó của trường này. Số SVHS giỏi, xuất sắc và đoạt các giải thi học sinh giỏi cấp Tỉnh, cấp Quốc gia lên đến 73 cháu.

– Niên khóa 96-97 : Số SVHS được khen thưởng lên đến 98 cháu.

 Chi Hội Khuyến Học đã gia nhập vào Hội Khuyến Học Quảng Nam Đà Nẵng theo Quyết định số 11/VP-KH ngày 3.5.1996.

– Hằng năm tổ chức Lễ Thanh Minh tại nhà ông Phan đình Huyên 4/15 số 279b kiệt 6 Hoàng Diệu, Đà Nằng, trước là Lễ Tưởng niệm công đức của Tổ tiên, sau để con cháu có dịp gặp gỡ nhau nhằm thắt chặt tình đoàn kết gia tộc.

Ngoài ba hoạt động chính nói trên,HĐGT còn tổ chức Lễ Mừng Thọ, thăm viếng phúng điếu, giúp đỡ bà con trong thân tộc khi hoạn nạn, ốm đau, qua đời … Bà con còn tham gia xây dựng tộc họ ở Bảo An một cách tích cực từ vật chất đến tinh thần. Những người hoạt động thường xuyên và trực tiếp gồm có các ông Phan Mạch 2/13, Phan Sô 4/13, Phan Long 2/14, Phan Đức Mỹ 3/14, Phan Hường 4/14, Phan văn Thê 4/14, Phan Tuấn 1/15, Phan Nam 2/15 …

– Cứu trợ nạn lụt :

*  Năm Bính Dần :

Bảo An là một vùng đất thấp ở Gò Nổi, nằm giữa hai con sông : một bên là nhánh sông Thu Bồn thường gọi là sông con hay sông trước, một bên là sông Thu Bồn thường gọi là sông cái hay sông sau. Về mùa mưa thường bị lụt. Sau nhiều ngày mưa to gió lớn, nước sông Thu dâng cao, tràn ngập cả một vùng rộng lớn. Làng mạc dọc theo hai bên ven sông, trong đó có Bảo An, Gò Nổi đều chìm dưới biển nước mênh mông, đục ngầu. Lụt nhỏ thì nước ngập nền nhà, bàn ghế, tủ giường. Lụt lớn nước lên xắp mái nhà, chỉ còn nóc nhà nhô trên mặt nước .

Trước tai họa thiên nhiên đó, người dân Bảo An đã có những biện pháp đề phòng bão lụt hữu hiệu. Nhà nhà cố gắng đắp nền thật cao, làm gác để bảo quản nông sản, thực phẩm. Nhà khá giả thì sắm ghe, xây nhà lầu. Ghe là phương tiện duy nhất để đi lại trong làng, cấp cứu, di dời những người từ nơi thấp đến nơi cao hơn trong những ngày lũ lụt.

Tuy thế, qua những trận lụt quá lớn như lụt năm Giáp Thìn 1964, Bính Dần 1998, dân trong vùng không sao tránh khỏi những tai họa đau thương ập đến. Nhà sập, nông sản thực phẩm bị ngập nước hoặc bị cuốn trôi theo dòng nưóc. Người người phải leo lên gác để ở, cơm không có ăn, nước sạch không có uống. Đói khát, lạnh lẽo, tính mạng bị đe dọa trầm trọng. Nhiều người đã phải nhai gạo sống, uống nước lạnh để cầm hơi.

Ngày trước, vào những năm lụt lớn, nhiều thân tộc khá giả có nhà cao đã nấu cơm vắt ra từng nắm phân phát cho mọi người. Mỗi người một vắt để cầm cự chờ nước rút. Người có ghe thì dùng ghe, không ghe thì kết bè chuối bơi đến nhận cơm về trao cho những nhà bị ngập nước.

Thật là : ” Miếng khi đói gói khi no,

                Của tuy tơ tóc, nghiã so nghìn trùng “    

Đầu tháng 10 năm Bính Dần 1998, cơn bão số 5 đã gây lụt lớn ở Qủang Nam. Các vùng đồng bằng của tỉnh bị ngập nước trong nhiều ngày liền. Tánh mạng và tài sản của những  người ở quê có thể bị nước lũ cuốn trôi. Chạnh nghĩ đến bà con ở quê nhà, chắc chắn họ đang phải gánh chịu những thảm họa, tai ương do thiên tai này mang đến, nhiều thân tộc ở Đà Nẵng, Tp.HCM, noi gương người trước thực hiện câu ” lá lành đùm lá rách ” đã cùng nhau đứng ra vận động cứu trợ ngay trong những ngày nước còn ngập trắng làng quê.

Ban vận động ở Đà Nẵng gồm các ông Phan Sô, Phan Long, Phan Tám, Phan văn Thê, Phan Tuấn  đã đi đến từng nhà để quyên góp phẩm vật cứu trợ. Bà con ta đã đồng lòng hưởng ứng nhiệt tình, kẻ ít người nhiều, quyết  ” nhường cơm xẻ áo “ cho bà con đang trong cơn hoạn nạn.

Việc cứu trợ thực hiện làm 3 đợt :

– Đợt 1 : ( Khi nước chưa rút ) Mua 60 thùng mì ăn liền, quyên góp được 5 bao áo quần cũ. Ban vận động theo xe đò chở vào Vĩnh Điện, tại chân cầu, đáp ca-nô ngược dòng về Bảo An.14giờ ngày 27.11.98, ông Long và ông Tuấn đưa hàng cứu trợ về đến Bến Đường. Ca-nô chạy vào tận mép làng ( ngay nhà ông Tri Hậu ). Mì gói và áo quần được đưa về nhà thờ Tộc và phân phát cho tất cả các gia đình trong tộc. Tình tương thân, tương ái, nghĩa gia tộc thắm thiết, đậm đà làm cho mọi người cảm động đến rơi nước mắt.

– Đợt 2 : ( Sau khi nước vừa rút, đường bộ tạm thông ) Mua 20 thùng mì ăn liền và 140 ve dầu gió. Các ông Sô, Thê, Dũng, Tuấn đi xe honda theo đường bộ chở hàng về Bảo An. Nước vừa mới rút nên nhiều đoạn đường còn ngập nước đến nửa bánh xe. Nhiều nơi bị sạt lỡ, bùn non trơn trợt lại phải chở nặng, việc đi lại thật khó khăn, nhưng bốn người vẫn về đến nhà thờ  tộc ở Bảo An. Lần này phẩm vật cứu trợ chỉ phát cho các con gái trong tộc đã có chồng ở Bảo An, vì lần trước đã phát cho con trai rồi.

– Đợt 3 : Theo kế hoạch, việc cứu trợ đến đây coi như chấm dứt. Nhưng sau đó, nhiều thân tộc từ các nơi trong nước như Tp.HCM, Hà Nội … và ở nước ngoài gởi tiếp tiền về ủng hộ.

Để thể hiện tấm lòng ưu ái của những người xa xứ muốn cứu trợ bà con bị hoạn nạn vì thiên tai, Ban vận động tiếp tục phân phát số tiền nhận thêm được cho những gia đình có nhà cửa bị sâp , thóc lúa bị nước cuốn trôi và những người còn nhiều khó khăn sau cơn lụt. Ngày 28 Tết ÂL, ông Sô và ông Thê mang tiền về Bảo An trợ cấp cho những gia đình nói trên. Tùy theo mức độ khó khăn, do các Phái đề nghị, mỗi hộ nhận từ 50.000 đồng – 200.000 đồng để ăn Tết.

Tổng số tiền quyên góp được : 12.065.000 đồng

Tổng chi                                   8.828.000 đồng

Còn                                           3.137.000 đồng

Số tiền còn lại là tiền do Ban vận động nhận được sau khi thực hiện 3 đợt cứu trợ nói trên. Dự kiến trợ cấp tiếp cho các hộ còn khó khăn. Danh sách bà con đóng góp đã được Ban vận động tổng kết và gởi đến từng thân tộc. Rất tiếc vì danh sách quá dài nên chúng tôi không đăng vào đây được.

Nhìn vào danh sách, chúng tôi vô cùng cảm động vì có người chỉ góp có 5 ngàn đồng,” của ít lòng nhiều “, dù nghèo khó nhưng vẫn không quên  câu : ” một giọt máu đào hơn ao nước lã “. Việc người trong tộc cứu giúp nhau trong cơn hoạn nạn, âu đó cũng là lẽ thường tình. Nhưng đặc biệt nhất là có một người ngoài tộc ta là cô Diệu Hiền, em vợ ông Phan Xuân Huy, từ Pháp gởi về 500.000 đồng nhờ Ban vận động chuyển về cứu trợ cho bà con tộc Phan ta ở quê nhà trong cơn lũ lụt. Thật cảm động biết bao, thật đáng trân trọng biết bao !

– Năm Kỷ Mão :

Tháng 9 năm Kỷ Mão ( 11/1999) một trận lụt lớn xảy ra trên khắp các tỉnh miền Trung, từ Quảng Trị  đến Bình Định. Làng Bảo An lại ngập trong biển nước mênh mông. Chương trình cứu trợ rộng lớn từ trung ương cho đến địa phuơng, các cơ quan từ thiện, các đoàn thể tôn giáo, tư nhân trong cũng như ngoài nước đều tham gia. Nhiều đoàn cứu trợ đã trực tiếp đến từng nơi bị ngập lụt nặng nề trao tiền, hàng cứu trợ, trong đó có nhiều thân tộc của chúng ta đã tham gia tích cực. Rất tiếc chúng tôi không thống kê hết được việc làm cao quí của các thân tộc này, họ không thông qua Tộc vì công việc cứu đói quá cấp bách và khẩn thiết. Sau lụt, ngày 21.11.1999 Hội Khuyến Học tộc Phan có nhận được 2200 quyển vở học sinh và 300 cây viết của các ông Phan Đức Bảo 14/4, Phan Dư Bách 14/4 và Phan Quốc Tâm 15/4 từ Mỹ gởi về tặng cho các học sinh tộc Phan tại Bảo An, qua ông Phan văn Thê. Vở và viết được Phân Chi Hội Khuyến Học tộc Phan Tại Bảo An nhận và phát trực tiếp cho các cháu tại Từ Đường nhà thờ tộc. Số vở và viết được phân chia như sau :

– SV Đại học : 20 cuốn / người

– HS Cấp 2 & 3 : 15 cuốn / người + 1 cây viết

– HS Cấp 1 : 10 cuốn/ người + 1 cây viết.

Cũng trong dịp này Ông Phan Long và Phan văn Thê, thay mặt Hội Khuyến học Tộc Phan đến thăm và tặng các thầy, cô giáo Trường Phan Thanh 200 cuồn vở + 100 cây viết loại tốt để dùng soạn bài. Ngoài ra còn gởi tặng các học sinh tộc Phan đang cư trú tại Thừa Thiên 200 cuốn vở do ông Phan Sô trao lại. Của tuy chẳng đáng là bao nhưng các cháu nhận được vở cứu trợ rất cảm động vì qua cơn lụt sách vở bị cuốn trôi, không tiền mua sắm lại để tiếp tục việc học. Các cháu hứa quyết tâm học tập tốt để không phụ lòng mong mỏi của các bậc cha, anh luôn luôn quan tâm đến các thế hệ tương lai của dòng tộc.

* Thành phố HCM :

Đa số đến định cư vào những năm 1954 -1964 – 1975. Đây là thành phố có số bà con tộc Phan Bảo An đến định cư đông nhất gồm 548 hộ. Phái Nhất : 9 hộ – Phái Nhì : 235 hộ – Phái Ba : 145 hộ – Phái Tư : 87 hộ – Phái Năm : 72 hộ. Đa số là CB/CNVC Nhà Nước, làm nghề dệt và buôn bán. Bà con đã thành lập HĐGT gồm có các ông :

Tri Tộc                   : Ô. Phan Nhật Sanh        5/13

Phó Tri Tộc            : Ô. Phan Minh Kế          3/13

Tư Lễ                     : Ô. Phan Mười              3/13

Thư ký                   : Ô. Phan Chính             2/14

Thủ quỹ                 : Ô. Phan Thóa               2/14

Đại diện Phái Nhất : Ô. Phan Long                1/15

      –   Nhì  : Ô. Phan Xuân Huy          2/14

      –     Ba    : Ô. Phan Quang Thanh  3/13

       –    Tư    : Ô. Phan văn Mai           4/13

        –   Năm : Ô. Phan Năm                5/13

Cố vấn :                   – Ô. Phan Kinh           3/13

                                -Ô. Phan Thành         4/13

                                – Ô. Phan Mua           5/13

Đây là nơi sinh hoạt về Tộc Họ có nề nếp và có tổ chức :

* Xây dựng nhà thờ: Năm 1992 xây dựng Nhà Thờ tại 23A/1 Ấp Bình Triệu, xã Hiệp Bình Chánh, QL 13, Quận Thủ Đức, khánh thành trong dịp Lễ Thanh Minh ngày 4.4.1993 (13.3 năm Quí Dậu).

Cựu Trưởng Ban Vận động và Xây dựng : Ông Phan Trung Tẩn 5/13.

Ông Tẩn vạch kế hoạch, phương án vận động tài chánh, tìm mua đất, xin giấy phép xây dựng. Công việc đang tiến hành, đột nhiên ông Tẩn lâm bệnh nặng không tiếp tục nhiệm vụ được nữa. Tộc phải cử ông Phan Huynh 3/13 thay thế.

Ban Xây dựng gồm có các ông :

– Trưởng ban         :  Phan Huynh.

– Hội Chủ              :  Phan Bá Thôn  2/15

– Đốc công            :  Phan Kinh        3/13

– Thủ quỹ              :             Phan  Liễu        3/14

– Thư ký                 :                Phan Chính       2/14

Các thành viên : Ô.Ô. Phan Minh Kế 3/13, Phan Mười 3/13, Phan Cư 4/13, Phan Nhật Sanh 5/13, Phan Mua 5/13, Phan Thóa 2/14, Phan Văn Đức 4/14, Phan Năm 5/14, Phan Long 1/15.

* Nhà Thờ xây dựng trên một khu đất :

Chiều rộng phía trước 15.90m , phía sau 11.90m , chiều sâu 24.45m.

– Mặt trước là Từ Đường ( 8.25m x 7.25m).

– Bên hông phải Từ Đường là Nhà Trù (10.45m x 3.65m).

– Phía sau Tiền Đường là phòng ngủ của người Từ, nhà bếp và nhà vệ sinh.

– Sân trước 15.9m x 11m.

Từ cổng chính đi vào có xây Bình phong chạm trổ hoa văn và đắp hình long, mã nổi 2 mặt, sau Bình phong có đúc đĩnh để thắp nhang và đốt giấy vàng mã.

Kinh phí xây dựng  : 224.500.000 đồng.

Vật dụng khí mãnh : 8.600.000 đồng. Tất cả số tiền trên đều do con, cháu Nội Ngoại ở trong và ngoài nước tự nguyện đóng góp.

* Tổ chức Lễ tưởng niệm công đức của tổ tiên : Hằng năm tổ chức Lễ Thanh Minh, giỗ Tổ Tiền Hiền và các Ngài Tổ Phái tại Nhà thờ, trước là để tưởng niệm công đức của Tổ tiên, sau là tạo điều kiện cho con cháu gặp gỡ nhau nhằm thắt chặt tình đoàn kết gia tộc nơi đất khách quê người. Các ngày Lễ Giỗ được tổ chức rất trọng thể theo nghi thức cổ truyền của gia tộc, con cháu đến tham dự rất đông.

* Lầp Hội Khuyến học : Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng Hội Khuyến học Tộc Phan , ban Tri sự tộc Phan tại Tp.HCM đã thành lập Phân Chi Hội Khuyến học vào ngày 15.11.1998.

Ban thường vụ gồm có các ông:

– Trưởng ban  : Phan Nhẫn

– Phó ban : Phan Minh Tâm, Phan Xuân Huy, Phan Chính, Phan Đức Bình

– Thư ký          : Phan Bá Lương

– Kế toán          : Phan Tân Minh

– Thủ quỹ         : Bà Phan Thị Kim

Ban Khuyến học có quỹ tài chánh riêng để phục vụ cho công tác khuyến học gồm có :

– Do tộc Phan Bảo An tại Tp.HCM cấp hằng năm .

– Do các mạnh thường quân và bà con trong tộc, trong cũng như ngoài nước, tự nguyện đóng góp.

Mục tiêu chính của Hội Khuyến học là nhằm tạo điều kiện giúp đỡ cho con cháu tộc Phan hiếu học trong các gia đình khó khăn tại quê nhà Bảo An cũng như tại Tp.HCM.

Ngoài các sinh hoạt tại địa phương,bà con thân tộc ở Tp.HCM còn tích cực tham gia xây dựng Tộc Họ ở Bảo An cả vật chất lẫn tinh thần. Dù sống nơi xa xôi cách trở, nhưng hằng năm vào dịp Thanh Minh, nhiều bà con vẫn về Bảo An dự Lễ Thanh Minh và dâng hương tại khu mộ Tiền Hiền ở xã Duy Châu, huyện Duy xuyên.

Những người hoạt động thường xuyên và trực tiếp gồm có các ông Trưởng tộc, Đại diện 5 Phái nói trên và các ông Phan Kinh 3/12 – Phan Mười 3/13 – Phan Mua 5/13 – Phan Nhi và Phan Liễu 3/14 ( trước khi đi Canada ) – Phan Thóa 2/14 và Phan Chính 2/14 …

* Lâm đồng, Đà Lạt : Gồm trên 170 hộ.

Bà con đa số chủ yếu sống về nghề làm rau, làm vườn, buôn bán và CB/CNVC Nhà Nước.

Họ cũng đã thành lập HĐGTvà sinh hoạt về tộc họ thường xuyên. Từ ngày chưa xây dựng được nhà thờ, hằng năm bà con đã tổ chức Lễ Thanh Minh và các ngày giỗ Tổ tiên, tạm thời tại nhà ông Phan Việt đường Phù Đổng Thiên Vương, khu chợ rau Đa thiện Đà Lạt. Sau một thời gian dài vận động của Ban Tri Tộc, các con cháu nội ngoại đang sinh sống tại Lâm Đồng đã tự nguyện đóng góp để xây dựng nhà thờ. Trước là có nơi thờ phụng tổ tiên, sau để con cháu có dịp gặp mặt nhau, thắt chặt thêm tình gia tộc nơi đất khách quê người.

Ban vận động & xây dựng nhà thơ gồm có :

Trưởng Ban : Phan Cước 5/13

Phó ban        : Phan Việt  4/14

Đốc công      : Phan Long Phùng 2/14 và Phan Cũng 4/14.

Thủ quỹ        : Phan Lạc ( Tám ) 4/14.

Nhà thờ được xây dựng trên một khu đất : 12m x 30m.nằm trên trục đường Phù Đổng Thiên Vương, qua đường vòng cung Lâm Viên đến ngã ba, rẽ phải đi hết đường rãi nhựa khoảng 500 m là đến.

– Diện tích nhà thờ : 4m x 9m chia làm 3 gian.

– Vật liệu xây dựng : Tường gạch, mái lợp tôn, hiên trước và trụ cột đúc bê tông cốt thép.-

– Kinh phí xây dựng :   – Tiền mua đất   : 25.000.000 đồng ( 5 lượng vàng ).

                                –  Xây dựng       : 27.000.000 đồng.

                Tổng cọng                               : 52.000.000 đồng

Nhà thờ làm xong và khánh thành vào dịp Lễ Thanh Minh năm Kỷ Mão 1999. Nhà thờ tuy đã làm xong nhưng còn nhiều dự án cần phải làm thêm như trụ cổng, bình phong, cửa ngõ và mua sắm các dụng cụ thờ cúng, tế lễ như  chiêng trống, cờ xí…Trong nguồn kinh phí hạn hẹp vận động được trong con cháu nội ngoại ở tỉnh Lâm Đồng, bước đầu Ban Tri Tộc tộc Phan Bảo An tại Đà Lạt đã xây dựng được cơ ngơi thờ phụng tổ tiên, thật đáng trân trọng. Chúng ta tin rằng trong những ngày sắp tới, dần dần con cháu khắp nơi sẽ lại tiếp tay cùng Ban Tri Tộc thực hiện nốt những dự án còn lại.

Đây là ngôi nhà thờ thứ năm do con cháu tộc Phan Bảo An xây dựng từ ngày nước nhà hòa bình, độc lập, thống nhất đến nay ( 1975 – 2001 ) : 2 Nhà thờ Phan Cả và Phan Phái Nhì ở Bảo An, 1 ở Bình Triệu Tp/HCM, 1 ở Đà Lạt, 1 ở Hà Nha và một Tiền Đường trong khu Đền thờ Ngài Thái Thượng tộc Phan tại Hà Tĩnh .

Những người đã tích cực và thường xuyên tham gia việc Tộc Họ ở Đà Lạt gồm có các ông  Phan văn Tùng 3/13 – Phan Đình Cước 5/13 – Phan Luông 5/14 – Phan Long Phùng 2/14 – Phan Việt 4/14 – Phan Củng 4/14 – Phan Tám 4/14 , Phan Thiên 4/14 .

* Nước ngoài : Sau năm 1975, một số bà con tộc ta đã định cư tại nước ngoài theo diện ODP, HO hoặc đi du học. Chúng tôi đã tìm biết  được một số bà con thường hay liên hệ với Tộc Họ ở quê nhà như sau :

– Ở Hoa kỳ ( Ca ) : Bà Phan thị Kế ( bà trợ Bậc ) 2/13 – Phan Thị Thiệt 4/13 – Phan Bá Phụng 2/14 – Phan Minh Lộc 3/14 – Phan Mạnh Lương 2/14 – Phan văn Mính 4/14 – Phan đức Bảo 4/14 – Phan Dư Bách 4/14 – Phan văn Phải 2/14  – Phan Thị Bích Hà 4/14 – Phan Phong 2/14 ( Minnesota) – Phan (Nguyễn) Phải 2/14, Anh Nguyễn 2/15 …

– Ở Canada : Phan văn Huy 3/13, Phan Văn Hoa 3/13, Phan Nhi 3/14 – Phan Liễu 3/14.

– Ở Australia : Phan Long 4/14 – Phan Minh Trí 5/14.

– Ở Pháp      : Phan Thuyết 2/14 – Phan Xuân Hỗ 2/14 – Phan Xuân Dũng 2/14 – Phan Hoàng Định 2/15…

Còn một số đông bà con ở nước ngoài nhưng chúng tôi chua sưu tầm được.

Tất cả bà con tộc Phan Baỏ An dù đang làm ăn sinh sống ở bất cứ nơi đâu, trong cũng như ngoài nước, vẫn không quên cội nguồn của mình. Nhiều người đã không ngại  đường sá xa xôi cách trở vẫn về Bảo An dự Lễ Thanh Minh, dâng hương Tổ Tiên và thăm lại quê hương yêu dấu của mình. Tất cả đã đóng góp tích cực trong việc xây dựng Nhà Thờ, trùng tu Khu Mộ Tiền Hiền, xây dựng Tiền Đường, xây dựng Nhà Từ và xây dựng quỹ Khuyến Học của Tộc.

 


[1] Viết tiếp để đưa vào website của tộc PHAN

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. phan văn nồi (đề nồi) – phan thanh long (cụ cử long) là hai anh em từ huế ra làm quan trấn phủ ứng hòa – hà nội
    cụ phan văn nồi sinh ra phan trọng đoan,phan ngọc vị, phan thị tỳ
    cụ phan trọng đoan sinh ra phan văn trang (1928)
    phan văn trang sinh ra 4 con phan anh tuấn(1958),phan quốc hải(1960), phan quốc trung,…

    Bình luận bởi phan quoc hai | Tháng Bảy 15, 2012 | Phản hồi


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: